- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Huy Bình tàng trữ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2021 giữa Cơ quan Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2021/HS-ST Ngày 20-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Trịnh Huy B, sinh năm 1968 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Gầm cầu thang A, Công nhân X, phường L, quận L, Hải Phòng; nơi sinh sống: Số 27B/A15 tập thể A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Huy H và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Diệu T và có 01 con; tiền án: Có 01 tiền án chưa xóa (Án số 20/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị tạm giữ ngày 28/5/2021; tạm giam ngày 31/5/2021; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 27/5/2021 Trịnh Huy B điều khiển xe máy, Biển kiểm soát 20L1-8669 từ nhà đến khu vực ngõ 380 Tô Hiệu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi B điều khiển xe đi vào trong ngõ khoảng 200m thì gặp và hỏi mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi không xác định lai lịch cụ thể đang đứng ở cạnh bờ tường phía bên trái 300.000 đồng ma túy gồm 150.000 đồng ma túy đá và 150.000 đồng ma túy Heroine. Người nam giới nhận tiền và bảo B đợi một tý, rồi đi bộ vào một ngách nhỏ. Khoảng 15 phút sau người nam giới quay lại và đưa cho B 01 gói giấy bạc kích thước khoảng 1 x 2cm và 01 gói giấy vở học sinh kích thích khoảng 1 x 2cm. B cầm 02 gói ma túy cất giấu vào túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến khu vực chân cầu thang lô 10 tập thể An Dương thì bị lực lượng Công an phường An Dương đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại túi áo ngực phía trước bên trái B đang mặc 01 gói giấy bạc kích thước khoảng 1 x 2cm chứa ma túy đá và 01 gói giấy vở học sinh kích thước khoảng 1 x 2cm chứa Heroine. Ngoài ra còn thu giữ của B 01 xe mô tô, Biển kiểm soát 20L1 – 8669. Dẫn giải B cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường An Dương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 347/KLGĐ-MT ngày 31/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng thu giữ của Trịnh Huy B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18gam, là loại Heroine và 0,19 gam là loại Methamphetamine”.
Tại Bản cáo trạng số 95/CT-VKSLC ngày 05/8/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trịnh Huy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Huy B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Huy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trịnh Huy B mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định (số 347/MT/PC09) là vật Nhà nước cấm lưu hành.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về hòa đồng với xã hội và cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám xét và vật chứng thu giữ; Bản kết luận giám định số 347/KLGĐ-MT ngày 31/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa; lời khai đó thể hiện: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 27/5/2021, Trịnh Huy B có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam Heroin và 0,19 gam Methamphetamine, tổng lượng ma túy được xác định là 0,37 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang tại khu vực chân cầu thang lô 10 tập thể An Dương, phường An Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng.
Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát kết luận hành vi trên của bị cáo Trịnh Huy B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất gây nghiện và là nguyên nhân gây lên các tệ nạn xã hội, các bệnh dịch nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án nên phải xử lý nghiêm.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa nên lần phạm tội này của bị cáo bị coi là tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 347/MT/PC09) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SPACY mang Biển kiểm soát 20L1 – 8669 Trịnh Huy B sử dụng. Tài liệu điều tra thể hiện thuộc quyền sở hữu của ông Trịnh Huy Dũng, sinh năm 1967; nơi cư trú: phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (anh trai B). Ông Dũng cho B mượn để đi lại, không biết B dùng để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho ông Dũng quản lý, sử dụng. Nên HĐXX không xem xét.
- Về các vấn đề khác:
Đối với người nam giới bán ma túy cho Trịnh Huy B chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng không có cơ sở để điều tra, làm rõ.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trịnh Huy B 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28 tháng 5 năm 2021.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 347/MT/PC09) thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2021 giữa Cơ quan Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trịnh Huy B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân; - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |