- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lang Văn T bị truy tố, xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lang Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2021/HS-ST Ngày: 30/12/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Hoàng Thị Đào.
2/ Ông Hoàng Văn Phan.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2021/TLST – HS ngày 18 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lang Văn T, tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1997 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Xóm Y, xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lang Văn L, con bà: Hồ Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2021 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 28/8/2021 Lang Văn T đi ra xóm Đ, xã CQ mua thuốc lá, trên đường trở về đến khu vực cầu Y, xã CQ gặp một người đàn ông giới thiệu tên là L1 nhưng không biết rõ họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể, qua nói chuyện biết L1 cũng là người nghiện ma túy nên T đưa 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhờ mua hộ ma túy để đưa về sử dụng, T ngồi đợi khoảng 30 phút sau khi L1 quay trở lại đưa cho T 01 gói ma túy, sau khi có ma túy T trở về nhà và sử dụng một ít, số ma túy còn lại cất vào trong bao thuốc lá đem theo người để sử dụng dần. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày T đi nhờ xe máy của một người không quen biết đến khu vực vườn trồng cây keo ven đường thuộc xóm T,
1
xã CĐ với mục đích tìm kiếm ong để đốt lấy tổ thì bị Công an xã CĐ phối hợp với Công an xã V kiểm tra, phát hiện gói ma túy và lập biên bản bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 28/8/2021 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xác định: “Sau khi mở niêm phong thấy bên trong là một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, có một gói nhỏ được bọc bằng hai lớp giấy màu vàng (loại giấy chống ẩm của bao thuốc lá) bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy).
Sau khi loại bỏ mảnh giấy màu vàng, số chất bột nén màu trắng thu giữ của Lang Văn T có khối lượng là 0,15 gam (Không phẩy mười lăm gam).
Để có cơ sở kết luận và theo yêu cầu của công tác điều tra, Hội đồng đã tiến hành lấy 0,05 gam (Không phẩy không năm gam) chất bột nén màu trắng thu giữ của Lang Văn T bỏ vào 01 (một ) túi ni lông màu trắng dán kín để giám định…Các vật chứng còn lại gồm: 0,10 gam (không phẩy mười gam) chất bột nén màu trắng cùng vỏ bao niêm phong, mảnh giấy gói…”
Kết luận giám định số: 1257/KL-PC09(Đ2-MT), ngày 02/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Lang Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Lang Văn T có khối lượng là 0,15g (Không phẩy mười lăm gam).
Bản cáo trạng số: 89/CT-VKSQH ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, truy tố đối với bị cáo Lang Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lang Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.
Buộc bị cáo Lang Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,1g (Không phẩy một gam) ma túy Heroin còn lại sau khi đã đưa đi giám định cùng toàn bộ vỏ, bao đã được niêm phong và 01 (một) phong bì thư chứa 01 Test xét nghiệm chất ma túy đối với bị cáo Lang Văn T.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến, tranh luận gì thêm. Nói lời nói sau cùng tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
2
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản xét nghiệm chất ma túy; Biên bản giao, nhận người bị bắt; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định; Vật chứng thu giữ được; Bản tự khai và biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 28/8/2021 tại vườn keo ven đường thuộc khu vực xóm T, xã CĐ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Công an xã CĐ phối hợp với Công an xã V trong lúc làm nhiệm vụ, đã phát hiện bắt quả tang bị cáo Lang Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (Heroine), có tổng khối lượng là 0,15 gam (Không phẩy mười lăm gam) với mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích khác đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và mức hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Vụ án xảy ra ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Theo lời khai của bị cáo Lang Văn T, vào ngày 28/8/2021 tại khu vực cầu Y, xã CQ bị cáo nhờ một người tên L1 không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể mua
3
hộ mình 01 (một) gói ma túy với số tiền là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp đã tiến hành xác minh, điều tra về người có tên L1 theo đặc điểm miêu tả của bị cáo nhưng không xác định được, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là lao động tự do, hiện đang bị tạm giam, bị cáo không có tài sản riêng để đảm bảo cho việc thi hành án, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy (Heroine) 0,10 gam (không phẩy mười gam) còn lại sau khi đã đưa đi giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với vỏ, bao gói và 01 Test thử chất ma túy của bị cáo Lang Văn T cùng phong bì thư niêm phong là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lang Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lang Văn T 16 (Mƣời sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/8/2021.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 0,10 gam (không phẩy mười gam) ma túy (Heroine) còn lại cùng vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì thư.
+ 01 test ma túy của bị cáo Lang Văn T được niêm phong trong 01 phong bì thư.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 18/11/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp).
3. Án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lang Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ hợp; - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp; - THADS huyện Quỳ Hợp; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - NCQLNVLQ; - lưu HS, VP; 5 | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |