- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá H và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T, Bùi Đình H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2021/HSPT Ngày: 16-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đình Thông
Bà Trương Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương Sen, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 65/2021/HSPT ngày 19 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Bá H và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T, Bùi Đình H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Bá H; tên gọi khác: không; Sinh ngày: 22/8/1979; tại: xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Yên Bình, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá Thị và bà Bùi Thị T; vợ Đặng Thị T và 03 con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/01/2021 đến ngày 18/02/2021 được thay thế biện pháp Bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 25/11/1976 tại xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Tam Long, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (đã mất) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ Nguyễn Thị T và 03 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 30/01/2019, bị Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi“Đánh bạc”, ngày 31/01/2019 đã nộp tiền phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/01/2021; có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Đình T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 23/6/1984; tại: xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Y, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T và bà Bùi Thị T (đã mất); vợ Nguyễn Thị P và 03 con lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2021 được thay đổi biện pháp; có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Bùi Đình H; tên gọi khác: không; sinh ngày 03/9/1981; tại xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: khối 10, thị trấn Nghèn, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: thợ sửa chữa ô tô; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân H và bà Trần Thị L; vợ Trần Thị H và 03 con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 29/6/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo (thử thách 20 tháng 16 ngày) về tội Trộm cắp tài sản, đã thi hành xong toàn bộ hình phạt của bản án, đã được xóa án tích. Ngày 12/01/2016, bị Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”; bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo: không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 05 phút ngày 07/01/2021, tại gara ô tô T ở khối 10, thị trấn Nghèn, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Đình T, Trần Văn Hồng, Lê Đình K và Bùi Đình H đã c hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng với tổng số tiền 19.920.000 đồng. Trong đ , Trần Văn Hồng sử dụng 9.270.000đồng, Bùi Đình H sử dụng 5.000.000 đồng, Lê Đình K sử dụng 3.600.000đồng, Trần Đình T sử dụng 2.050.000 đồng để đánh bạc.
Quá trình kiểm tra dữ liệu trên điện thoại Iphone 6S, lắp sim thuê bao 0913.807.231 của Trần Đình T xác định: khi đến gara ô tô Tý Huế, vào 17 giờ 26 phút ngày 07/01/202, Tuấn đã dùng điện thoại này để nhắn tin ghi lô đề trái phép đến số điện thoại 0941.081.382 của Nguyễn Bá H. Quá trình mở rộng điều tra vụ án hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề của các bị cáo như sau:
Trong các ngày 06 và 07/01/2021 tại thôn Yên Bình, xã Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Bá H đã c hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái pháp luật với Trần Đình T, Trần Văn T, Nguyễn H, Nguyễn Đình N, Lê Doãn L, Đinh Văn Đ 2 lần tổng số tiền 54.840.000đồng. Trong đ : Bị cáo Nguyễn Bá H 02 lần với tổng số tiền dùng để đánh bạc 54.840.000 đồng, trong đ lần c trị giá cao nhất là 41.940.000 đồng; Trần Đình T 01 lần 13.000.000 đồng; Trần Văn T 02 lần 29.900.000 đồng, trong đ lần c trị giá cao nhất là 13.000.000 đồng; Nguyễn H 01 lần 7.740.000 đồng (trong đ Đinh Văn Đ tham gia đánh bạc 700.000 đồng); Nguyễn Đình N và Lê Doãn L 4.200.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện C đã thu giữ trong lần đánh bạc tại gara ô tô Tý Huế gồm:Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 19.920.000 đồng; 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ 52 quân); 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ-vàng đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, BKS 38L1-2429 của Trần Đình T; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter V, BKS 38H1-3998 màu xanh của Bùi Đình H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen c gắn thẻ sim 0382.055.441 và 01 điện thoại Oppo F5 có gắn sim 0912.470.506 của Bùi Đình H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng có gắn thẻ sim 0987.689.678 của Trần Văn H; 01 điện thoại Oppo Reno 2F, màu xanh có gắn sim 0984378186 và 0914402678 của Lê Đình K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám, bên trong có gắn thẻ sim 0913.807.231 của Trần Đình T.
Thu giữ trong lần đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề gồm: Thu giữ 02 (hai) tờ phiếu xuất kho kích thước (14,8x21)cm mặt sau có ghi các số lô, số đề; 01 (một) quyển lịch có ghi số lô số đề; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A71, màu hồng có gắn các thẻ sim thuê bao số 0799.109.086 và 0941.081.382 của Nguyễn Bá H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu bạc có gắn thẻ sim 0987.251.176 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen c gắn thẻ sim số 0971.297.377 của Trần Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 prime màu vàng có gắn thẻ sim số 0844.140.111 của Nguyễn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu xanh có gắn các thẻ sim 0705.473.986 và 0822.322.216 của Nguyễn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 màu trắng có gắn các thẻ sim số 0911.083.985 và 0976.051.116 của Nguyễn Đình N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 có gắn các thẻ sim số 0989.870.342 và 0945.991.678 của Lê Doãn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0911.137.682 của Nguyễn Văn Hà.
Tại Bản án sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T, Bùi Đình H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 58; Điều 32, Điều 35, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự (Bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52; Bùi Đình H, Nguyễn Bá H, được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự), xử phạt:
Nguyễn Bá H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/01/2021 đến ngày 08/02/2021.
Xử phạt Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù.
Xử phạt Trần Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù. nhưng được trừ thời giantạm giữ kể từ ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2021.
Bùi Đình H 08 (Tám) tháng tù. nhưng được trừ thời gian tạm giữ kể từ ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2021.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên hình phạt với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung phạt tiền các bị cáo, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/4/2021 và ngày 26/4/2021 các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T, Bùi Đình H kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo v n giữa nguyên nội dung đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015 chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm 11/2021/HSST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị xử phạt các bị cáo: Nguyễn Bá H 20 tháng tù; Trần Văn T 09 tháng tù; Trần Đình T 11 tháng tù; Bùi Đình H 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giữ nguyên hình phạt bổ sung phạt tiền các bị cáo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Các bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.
. X t tính chất, hành vi phạm tội và nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng x t xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu c trong hồ sơ vụ án c đủ cơ sở khẳng định: Nguyễn Bá H đã 02 lần đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề với tổng số tiền dùng để đánh bạc 54.840.000 đồng, trong đ lần c trị giá cao nhất là 41.940.000 đồng; bị cáo Trần Đình T 02 lần đánh bạc dưới hình thức đánh liêng và ghi lô đề với tổng số tiền 32.920.000đ; bị cáo Trần Văn T 02 lần đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề với tổng số tiền 29.900.000 đồng; bị cáo Bùi Đình H đã c 01 lần tham gia cùng các bị cáo khác đánh bạc bằng hình thức đánh liêng với tổng số tiền 19.920.000đ, trong đ bị cáo sử dụng 5.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành của tội “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321của Bộ luật hình sự. Do đ , Toà án cấp sơ thẩm x t xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Khung hình phạt quy định “... phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm”.Tòa án cấp sơ thẩm đã xem x t đầy đủ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đã lên mức án phù hợp.
Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo xuất trình các tình tiết mới: bị cáo Trần Văn T có giấy xác nhận của Phòng cảnh sát hình sự công an tỉnh Hà Tĩnh về việc bị cáo có nhiều đ ng g p trong đấu tranh tội phạm, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Trần Văn T có mẹ là bà Nguyễn Thị Đức có công cách mạng, tham gia dân công hỏa tuyến; các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Đình T, Trần Văn T xuất trình giấy xác nhận của UBND xã Q, huyện C đã có thành tích đ ng g p trong xây dựng nông thôn mới, có hoàn cảnh gia đình kh khăn; bị cáo Bùi Đình H hoàn cảnh gia đình kh khăn con còn nhỏ dại, vợ sức khỏe yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của UBND thị trấn Nghèn, huyện C; bị cáo H, T, T, H đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung, án phí và tiền truy thu sung quỹ nhà nước theo biên lai số 0001644 ngày 25/4/2021 và số 0001636 ngày 23/4/2021 (bị cáo Nguyễn Bá H, tổng số tiền 42.430.000đồng), biên lai số 0001635 ngày 23/4/2021 và số 0001643 ngày 25/5/2021 (bị cáo Trần Đình T, tổng số tiền 19.200.000đồng), biên lai số 0001634 ngày 23/4/2021 (bị cáo Trần Văn T, số tiền 27.700.000đồng), biên lai số 0001648 ngày 13/7/2021 (bị cáo Bùi Đình H, số tiền 10.200.000đồng) của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, chứng tỏ các bị cáo ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt mà cấp sơ thẩm chưa c nên chưa xem x t cho các bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết này để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là c căn cứ.
Đối với bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Đình T, Trần Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy rằng các bị cáo đều phạm tội 2 lần, theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao các bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo.
[2.2] Đối với bị cáo Bùi Đình H tham gia đánh bạc 1 lần với số tiền ít, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Theo hướng d n tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bị cáo c đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đ , x t thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
. Về án phí: Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử:
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T, Bùi Đình H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh về hình phạt.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá H, Trần Văn T, Trần Đình T, Bùi Đình H phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 58; Điều 32, Điều 35, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Trần Văn T:
Xử phạt Nguyễn Bá H 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2021 đến ngày 18/02/2021.
Xử phạt Trần Văn T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Xử phạt Trần Đình T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/01/2021 đến ngày 11/01/2021.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 58; Điều 32, Điều 35, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt Bùi Đình H 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Đình H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nghèn, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Bá H 15.000.000đ.
Phạt tiền Trần Văn T, Trần Đình T mỗi bị cáo 13.000.000đ.
Phạt tiền bị cáo Bùi Đình H 10.000.000đ.
(Các bị cáo đã nộp tiền phạt).
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, không bị kháng nghị, c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nhận:
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh;
| - VKSND, TAND cấp sơ thẩm; - Chi cục THADS cấp sơ thẩm; - Bị cáo; - Lưu Văn thư; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Bích Đào |