- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2020/HSST Ngày 23 - 6 - 2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Yêm
2. Bà Hoàng Thị An
- Thƣ ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.
- Đ diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 23/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 87/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn AM, xã YV, huyện GL, Thành phố Hà Nội; Tạm trú : thôn B, xã KC, huyện ĐA, thành phố Hà Nội ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ; có chồng là Nguyễn VA, có 01 con chung năm 2007, Bị cáo khai có 01 con riêng sinh năm 2017. Về nhân thân và theo trích lục tiền án, tiền sự số 2504376/PV06 ngày 31/3/2020 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2020 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê TT, sinh năm 1993
Hộ khẩu thường trú: thôn HB, xã HB, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 05/3/2020, Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện ĐA làm nhiệm vụ tại khu vực thôn B, KC, ĐA, Hà Nội phát hiện Nguyễn VT và Lê TT đang ngồi ở dưới gần cầu vượt đường Hoàng Sa địa phận thuộc thôn B, KC có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại vị trí dưới đất nơi Thái ngồi có 01 túi nilon màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự tạo, 01 bật lửa ga; Tại vị trí dưới đất nơi Tú ngồi có 01 túi nilon. Khám người theo thủ tục hành chính đối với Tú và Thái không thu giữ gì liên quan đến ma tuý. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng rồi đưa Nguyễn VT và Lê TT về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Ngoài ra còn tạm giữ của Lê TT: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen, kèm sim số 0952496993.
Tại Bản kết luận giám định số 1930/KLGĐ- PC09 ngày 13/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: 01 bộ tẩu hút tự tạo và 02 túi nilon đều có dính ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn VT và Lê TT khai: Khoảng 10 giờ ngày 05/3/2020, Nguyễn VT và Lê TT ngồi uống nước tại thôn B, KC, ĐA, Hà Nội. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên TT và VT cùng rủ nhau đi mua ma tuý về sử dụng. Lê TT dùng điện thoại của mình gọi vào số 0914359007 của một người phụ nữ tên Giang được Giang hẹn Thái đến phòng trọ của Giang tại thôn B, KC, ĐA, Hà Nội. Sau đó, Thái cùng Tú đi đến trước cửa phòng trọ số 12 của Giang. Tại đây, Thái đưa cho Giang 300.000 đồng để mua 01 túi ma tuý “đá” của Giang, Giang bán 01 túi ma tuý “đá” cho Thái. Tiếp đó, Tú hỏi mua 200.000 đồng ma tuý “đá” của Giang, Giang bán 01 túi ma tuý “đá” cho Tú. Sau khi mua được ma tuý xong, TT và VT cùng nhau đi ra gầm cầu vượt trên đường Hoàng Sa thuộc thôn B, KC để cùng nhau sử dụng ma tuý.
Căn cứ lời khai của Lê TT, Nguyễn VT và tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Lê TT và Nguyễn VT đi xác định nơi ở của Giang. Kết quả phòng trọ mà TT và VT xác định là phòng trọ số 12 thuộc dãy nhà trọ tại thôn B, xã KC, huyện ĐA do Nguyễn Thị Đ tên thường gọi là Giang thuê trọ ở một mình.
Thu thập bản ảnh của Nguyễn Thị Đ cho Lê TT và Nguyễn VT nhận dạng, kết quả xác định: Nguyễn Thị Đ chính là người đã bán ma túy cho TT và VT ngày 05/3/2020.
Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, ngày 05/3/2020 Cơ quan điều tra - Công an huyện ĐA đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Đ. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ trên mặt bàn trong phòng có 01 hộp kim loại màu xanh bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; Trong xô nhựa màu xanh hình trụ cao khoảng 30cm bên trong có 01 cân điện tử màu đen trắng; Trong ngăn kéo trên cùng của tủ nhựa đặt tại góc phòng có 50 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng; Trên giường ngủ có 01 túi sách màu xanh bên trong có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, kèm sim số 0967127155; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, kèm sim số 0914359007; Số tiền 1.500.000 đồng. Khám người đối với Nguyễn Thị Đ không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Nguyễn Thị Đ về trụ sở để tiếp tục làm việc.
Tại Bản kết luận giám định số 1958/KLGĐ- PC09 ngày 13/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
- Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng: 0,229 gam là ma túy loại Methamphetamine.
- Cân điện tử màu đen trắng không dính ma tuý.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị Đ khai nhận hành vi bán trái phép ma tuý “đá” cho Nguyễn VT và Lê TT ngày 05/3/2020 phù hợp với lời khai của Tú và Thái. Số tiền bán ma tuý cho TT và VT mà có được Đ đã tiêu sài việc cá nhân hết. Ngoài việc bán ma túy cho TT và VT ngày 05/3/2020 ra thì Đ không bán ma túy cho TT và VT lần nào khác nữa.
Về nguồn gốc số ma tuý Đ bán cho Tú và Thái và số ma tuý cơ quan công an thu giữ Đ khai: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 02/3/2020, khi đang ở phòng trọ tại thôn B, KC, ĐA, Hà Nội thì có một người bạn nam giới tên Hiền đến phòng trọ số 12 của Đ chơi. Tại đây, Hiền lấy 01 túi ma tuý “đá” ra và rủ Đ sử dụng cùng, Đ đồng ý và cùng sử dụng ma tuý với Hiền. Trong lúc sử dụng ma tuý với Hiền, Đ đã lấy một phần ma tuý trong túi ma tuý của Hiền ra chia vào 03 túi nilon với mục đích sau khi Hiền về thì Đ sẽ sử dụng số ma tuý này. Khi lấy ma tuý thì Hiền nhìn thấy nhưng không nói gì. Việc Đ lấy ma tuý của Hiền thì không phải trả tiền. Sau khi có được 03 túi ma tuý “đá”, Đ đã bán 01 túi ma tuý cho VT và 01 túi ma tuý cho TT, còn 01 túi ma tuý “đá” thì cất giấu vào hộp kim loại và để trên mặt bàn trong phòng trọ của Đ với mục đích để sử dụng và bán lại khi có khách hỏi mua.
Đối với đối tượng tên “Hiền” cho Đ ma tuý, do Đ khai không rõ tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ.
Đối với Lê TT và Nguyễn VT đã có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm khoản 1, Điều 21, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội. Ngày 22/5/2020 Công an huyện ĐA đã xử phạt hành chính đối với TT và VT bằng hình thức Cảnh cáo.
Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKSĐA ngày 29/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại Phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị Đ khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đ diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Đ bị cáo Từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,194 gam ma túy Methamphetamine; 01 cân điện tử; 50 túi nilon màu trắng thu giữ của Đ; 01 phong bì niêm phong có 01 túi nilon màu trắng thu giữ của Tú; 01 phong bì niêm phong có 01 túi nilon màu trắng và 01 chai nhựa gắn 01 đoạn ống hút, 01 bật lửa ga thu giữ của Thái. Tịch thu sung quỹ nhà nước 03 điện thoại và 1.500.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thị Đ tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 05/3/2020 tại phòng trọ số 12 thôn B, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Đ đã có hành vi bán trái phép 01 túi nilon ma túy “đá” loại Methamphetamine cho Lê TT với trị giá 300.000 đồng và 01 túi nilon ma túy “đá” loại Methamphetamine cho Nguyễn VT với trị giá 200.000 đồng. Số ma túy này TT và VT đã sử dụng trái phép hết.
Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm..
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên;”
Hành vi Mua bán trái phép ma túy Methamphetamine là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả cộng đồng xã hội ra sức tìm cách bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do vì hám lợi vẫn cố tình phạm tội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: ăn năn hối cải do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về tiền án, tiền sự của bị cáo: bị cáo không có tiền án tiền sự
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đông xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhằm hạn chế các loại tội phạm khác trên địa bàn huyện ĐA với mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ: 0,194 gam ma túy Methamphetamine; 01 cân điện tử; 50 túi nilon màu trắng thu giữ của Đ; 01 phong bì niêm phong có 01 túi nilon màu trắng thu giữ của Tú; 01 phong bì niêm phong có 01 túi nilon màu trắng và 01 chai nhựa gắn 01 đoạn ống hút, 01 bật lửa ga thu giữ của Thái cần tịch thu tiêu hủy.
Truy thu số tiền 300.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Thái mà có và 200.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Tú mà có. Tổng cộng là 500.000 đồng.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xan đen, kèm sim thu giữ của Lê TT và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, kèm sim thu giữ của Đ là phương tiện sử dụng việc phạm tội
Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự cần tịch thu một phần tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Đ để sung quỹ nhà nước là 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, kèm sim và số tiền còn lại 1.000.000 đồng.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm b, c Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Đ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2020.
- Căn cứ Điều 47; Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,194 gam ma túy Methamphetamine; 01 cân điện tử; 50 túi nilon màu trắng thu giữ của Đ; 01 phong bì niêm phong có 01 túi nilon màu trắng thu giữ của Tú; 01 phong bì niêm phong có 01 túi nilon màu trắng và 01 chai nhựa gắn 01 đoạn ống hút, 01 bật lửa ga thu giữ của Thái.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen, kèm sim; 01 điện thoại di động Nokia màu đen, kèm sim; 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, kèm sim và số tiền 1.500.000 đồng (trong đó đã bao gồm số tiền truy thu 500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và số tiền tịch thu là 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo).
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/6/2020 giữa Công an huyện ĐA, Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 01/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội).
Bị cáo Nguyễn Thị Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện ĐA; - Công an huyện ĐA; - Chi cục THADS huyện ĐA; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - UBND xã YV, H. GL; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Trung Trực |