vanban.org

Bản án 87/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 17/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Vũ Phƣơng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,2383gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định) 01 vỏ bao thuốc lá Caraven đã được niêm phong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Phương N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Vũ Phƣơng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2020/HS-ST
Ngày: 17/11/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Cừ

Bà Võ Thị Hoa

- Thư ký Toà án: Bà Trương Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2020 tại hội trường xét xử Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Phƣơng N, sinh ngày: 30/8/1982; giới tính: Nam; nơi sinh: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân Công ty Cổ phần Cảng quốc tế Lào – Việt; trình độ học vấn: 12/12; Đảng phái: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng); con ông Vũ Đình T và bà Nguyễn Thị T; có vợ Lương Thị T và 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/9/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 11 tháng tù về tội Làm giả tài liệu của cơ quan theo Bản án số 18/2009/HSST. Chấp hành hình phạt tù trại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị đến ngày 01/10/2009 chấp hành xong án phạt tù. Hiện đã chấp hành xong bản án.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2020 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1956; trú tại: Tổ dân phố 02, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 10/7/2020, Vũ Phương N cùng cháu Vũ Phương A (sinh năm 2009, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh – con gái N) đón xe buýt từ huyện K đến thành phố H để đưa cháu A ra thành phố V rồi đi tàu vào thành phố Đ. Khi đến thành phố H, N cùng cháu A ngồi tại một quán nước gần siêu thị V, một lúc sau có người đến đón cháu A đi ra thành phố V. Sau đó N có nhu cầu muốn sử dụng ma túy đá nên đã lấy điện thoại của N có số thuê bao 0914757770 gọi đến số 0819659159 của một người đàn ông tên B ở thành phố H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá về sử dụng. Vì không có tiền trong người nên N nói là mua nợ và sẽ chuyển tiền trả sau, B đồng ý và nói chờ tí. Một lúc sau B điện thoại cho N nói đi đến trước cổng nhà tang lễ đường L ở cổng phụ Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó N thuê ông Nguyễn Xuân P (sinh năm 1956, trú tại tổ 2, phường B, thành phố H) làm nghề chạy xe ôm đang đứng gần đó chở đến địa điểm B hẹn (N chỉ nói với ông P là chở đến Nhà tang lễ ở cổng sau bệnh viện tỉnh). Khi đến gần Nhà tang lễ ở số 25, đường L thuộc phường T, thành phố H thì N xuống xe đi bộ và nhìn xung quanh nhưng không thấy B. Một lúc thì nhận được điện thoại của B gọi đến nói “ma túy trong vỏ bao thuốc lá Caraven màu đỏ để dưới chân cổng nhà tang lễ lại đó mà lấy”. N đi bộ đến cổng Nhà tang lễ nhìn thấy một vỏ bao thuốc lá Caraven màu đỏ trắng, biết bên trong có ma túy nên N đi đến cầm vỏ bao thuốc lên tay rồi quay lại để đi về. Khi N quay lại thì bị lực lượng Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, lập biên bản, niêm phong vật chứng và tiến hành trưng cầu giám định. Quá trình điều tra Nam hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số 142/GĐMT-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể trắng đựng trong túi nilon đựng trong vỏ bao thuốc lá Caraven màu đỏ trắng, được bỏ trong phong bì thư niêm phong giám định là ma túy, có khối lượng 0,2559 gam, là Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Về vật chứng vụ án: 0,2559 gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định còn 0,2383 gam Methamphetamine) cùng vỏ bao thuốc lá Caraven đã được niêm phong và 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng đã qua sử dụng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

Bản cáo trạng số 87/CT-VKS-TPHT ngày 12/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố Vũ Phương Nam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Phương N từ 18 đến 24 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo Vũ Phương N không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được sai phạm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố H lập hồi 17 giờ 40 phút ngày 10/7/2020 tại trước khu vực cổng nhà tang lễ số 25, đường L thuộc phường T, thành phố H; phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với các vật chứng vụ án được thu giữ; Kết luận giám định số 142/GĐMT-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xác định được: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 10/7/2020, tại trước khu vực cổng Nhà tang lễ số 25 đường L thuộc phường T, thành phố H, Vũ Phương N đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2559 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo Vũ Phương N có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Vũ Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; trong thời gian tham gia quân đội bị cáo có thành tích xuất sắc trong trong phong trào thi đua quyết thắng được được Chỉ huy trưởng Huyện đội Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tặng Bằng khen; bố, mẹ bị cáo là người có công trong kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Phương N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo Vũ Phương N thì ma túy do N mua của một người tên B ở thành phố H có số điện thoại 0819659159. Theo kết quả tra cứu từ Trung tâm kinh doanh VNPT – Hà Tĩnh, số điện 0819659159 do Nguyễn Hải T, sinh ngày 24/4/1976, địa chỉ phường H, thành phố H đăng ký thuê bao. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng Nguyễn Hải T không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sau. Ông Nguyễn Xuân P chở N đi mua ma túy nhưng không biết mục đích của N nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 0,2383gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định) 01 vỏ bao thuốc lá Caraven đã được niêm phong. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Vũ Phƣơng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Phƣơng N 18 (mƣời tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2020.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,2383gam Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định) 01 vỏ bao thuốc lá Caraven đã được niêm phong.

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng thu giữ của bị cáo Vũ Phương N.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 14 giờ 40 phút ngày 23/10/2020 giữa cán bộ Cơ quan điều tra Công an thành phố H và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo Vũ Phương N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ