- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Nhật H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lâm Nhật H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2020/HS-PT Ngày: 05 - 3 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước.
Ông Ngô Tấn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Ngh a - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2020/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Lâm Nhật H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2019/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lâm Nhật H, sinh năm 1997 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Bé H1 và bà Nguyễn Thị O; có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị b t, tạm giam: Không có; có mặt.
Ngoài ra trong vụ án người đại diện hợp pháp của bị hại không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Sau khi uống rượu tại nhà ở, thuộc xã T, thị xã N, bị cáo Lâm Nhật H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H1-279.xx từ xã T đi phường A, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp.
Đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 01/9/2019, bị cáo H điều khiển xe lưu thông trên đường Nguyễn Văn Trỗi theo hướng từ khóm 3 đi khóm 4, phường A, thị xã N. Khi đến trước quán cà phê V thuộc khóm 3, phường A, thị xã N, do thiếu quan sát nên xảy ra va chạm với ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1962; cư trú ấp 1, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đang đi bộ từ lề phải sang lề trái theo hướng đi của xe mô tô biển kiểm soát 66H1-279.xx do bị cáo H điều khiển. Hậu quả làm cho ông Huỳnh Văn M bị thương tích nặng vùng đầu, được đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực N cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy tiếp tục điều trị và đã tử vong; bị cáo H bị thương tích ở vùng đầu, điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy đến ngày 05/9/2019 thì ra viện.
Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 66H1-279.xx, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường nơi xảy ra vụ va chạm là đoạn đường thẳng, có tầm nhìn thông thoáng, mặt đường rộng 07m (bảy mét), được trãi một lớp đá nhựa màu đen, giữa tim đường có vạch kẽ đường màu vàng không liên tục.
Tất cả vị trí số đo được kéo vô mép đường bên phải theo hướng đi của xe mô tô biển kiểm soát 66H1-279.xx lưu thông từ khóm 3 đi khóm 4, phường A, thị xã N. Vùng va chạm được xác định giữa xe mô tô biển kiểm soát 66H1-279.xx và bộ hành cách mép đường là 2,15m (hai phẩy một năm mét).
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1137/TTh-TTPY ngày 07/10/2019 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Huỳnh Văn M, kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương đầu gây: Vỡ sọ; tụ máu dưới màng cứng và chảy máu dưới nhện hai bán cầu đại não; dập rách não.
- Chấn thương bụng gây: Tràn máu ổ bụng; vỡ gan, vỡ lách.
- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: Dập vỏ não; phù phổi cấp; vỡ lách.
2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
Tại Phiếu trả kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu đối với bị cáo Lâm Nhật H là 1.9g/l (190miligam/100mililit).
Tại Phiếu trả kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu đối với ông Huỳnh Văn M là 0.0g/l.
Về dân sự: Bị cáo H đã bồi thường thiệt hại các khoản cho người đại diện hợp pháp của bị hại là 150.000.000 đồng và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2019/HS-ST ngày 26/11/2019, Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lâm Nhật H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lâm Nhật H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/12/2019, bị cáo Lâm Nhật H kháng cáo xin giảm hình phạt, lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lâm Nhật H thừa nhận vào khoảng hơn 20 giờ ngày 01/9/2019, sau khi uống rượu tại nhà thì bị cáo H có điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H1-279.xx tham gia giao thông trên đường Nguyễn Văn Trỗi theo hướng từ khóm 3 đi khóm 4, phường A, thị xã N, tỉnh Đồng Tháp và khi đến trước quán cà phê V, do thiếu quan sát nên xe mô tô do bị cáo H điều khiển va chạm với ông Huỳnh Văn M đang đi bộ trên đường từ lề phải sang lề trái theo hướng đi xe mô tô của bị cáo H điều khiển, hậu quả ông M chết do bị đa chấn thương. Bị cáo H không rút kháng cáo, bị cáo nhận tội, nhưng mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án nhân dân thị xã N xử phạt bị cáo là nặng, mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo, lý do bị cáo là lao động chính, vợ bị cáo đang mang thai, m bị cáo bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lâm Nhật H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Xét mức án 01 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo H kháng cáo xin giảm nh hình phạt, lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình nhưng bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lâm Nhật H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lâm Nhật H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo H phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử bị cáo Lâm Nhật H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm chết người, tham gia giao thông đường bộ trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định. Bị cáo H là người thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, việc tham gia giao thông đường bộ phải tuân theo quy định về an toàn giao thông đường bộ, người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ làm chết người, điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100mililit thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Nhưng khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ ngày 01/9/2019, trong máu bị cáo H có nồng độ cồn là 190miligam/100mililit, thiếu quan sát nên xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm với ông Huỳnh Văn M đang đi bộ trên đường làm ông M chết và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc kh c phục hậu quả, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo, có phần lỗi của bị hại vì thiếu quan sát khi đi qua đường, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo H là có căn cứ. Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
Xét mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo H là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H kháng cáo xin giảm hình phạt, lý do bị cáo là lao động chính, m bị cáo bệnh nhưng bị cáo chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để xem xét; về tình tiết vợ bị cáo đang mang thai, bị cáo H có cung cấp phiếu siêu âm phụ khoa chị Nguyễn Thị Kim V1, kết luận lòng tử cung có túi thai, tuy nhiên đây không là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được pháp luật quy định.
Bị cáo H kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không cung cấp tình tiết mới, nên kháng cáo của bị cáo H không có căn cứ chấp nhận.
[4 Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lâm Nhật H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5 Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Lâm Nhật H không được chấp nhận, nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6 Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lâm Nhật H.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Nhật H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Nhật H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Về án phí: Bị cáo Lâm Nhật H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐ-KT 1); - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng GĐKTNV-THA TAT; - TAND-VKSND thị xã N; - CCTHADS thị xã N; - CQĐT Công an thị xã N; - Bị cáo; - Lưu: VT, HS (N). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng |