- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 87/2020/DS-ST Ngày: 24-7-2020 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Nga
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phƣớc Sang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Thụy Th y T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2020/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Xuân T, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Ấp T2, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Lâm Thị Xuân T:
Ông Cao u c T1, sinh năm 1988(Có mặt);
Địa chỉ: Ấp AN, xã MAHA, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (theo Văn bản ủy quyền ngày 25/11/2019).
2. Bị đơn:
Ông Lê Văn C, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang.
Bà Hu nh Thị C m V, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang
Chỗ ở hiện nay: Ấp KQ2, xã KT, huyện CM, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn ông Cao Quốc T1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, do quen biết với nhau, nên vợ chồng ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị Cẩm V có nhiều lần hỏi mượn vàng của bà T để làm ăn, cụ thể như sau:
Ngày 19/7/2006 bà V mượn 04 lượng vàng 24k (9999);
Ngày 29/7/2006 bà V mượn 2,5 lượng vàng 24k (9999);
Ngày 09/8/2006 bà V mượn 05 lượng vàng 24k (9999);
Tổng cộng bà V mượn bà T 11,5 lượng vàng 24k (9999).
Khi mượn vàng bà V đều làm biên nhận và thỏa thuận khi nào cần thì bà T sẽ lấy lại. Từ khi mượn vàng cho đến tháng 9/2013, bà V và ông C có trả cho bà T được 05 chỉ vàng 24k (9999). Hiện còn nợ bà T 11 lượng vàng 24k (9999). Năm 2017 do cần tiền để giải quyết công việc gia đình, bà T có đến gặp bà V, ông C để lấy lại vàng cho mượn, nhưng bà V, ông C vẫn không trả số vàng này. Nay ông yêu cầu ông C, bà V trả cho bà T 11 lượng vàng 24k (9999), không yêu cầu nào khác.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm V tại phiên tòa hôm nay, thừa nhận lời trình bày của ông T1 đại diện theo ủy quyền của bà T là đúng, hiện bà còn nợ bà T 11 lượng vàng 24k (vàng 9999). Nhưng việc này bà vay riêng của bà T để mở Đại lý bán bảo hiểm trong thời gian vợ chồng bà còn sống chung, ông C không biết việc này, nhưng bà không có cơ sở gì chứng minh. Số nợ này bà đồng ý chịu trách nhiệm trả cho bà T, nhưng do hoàn cảnh khó khăn, bà xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000đ bắt đầu từ tháng 01/2021 cho đến khi hết nợ trên.
Ông Lê Văn C đã có văn bản trình bày ý kiến, giữa ông và bà Huỳnh Thị Cẩm V là vợ chồng, trong thời gian sống chung ông không biết việc bà V vay vàng của bà T. Ông cũng không biết mặt và có mối quan hệ giao dịch nào với bà T. Năm 2018 ông và bà V đã thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Quyết định số 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02/01/2018. Ông không đồng ý theo yêu cầu của bà T.
Tại phiên tòa, ông T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Bà Cẩm V vẫn giữ nguyên ý kiến
Ông C đã có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Xuân T.
Buộc ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị Cẩm V có nghĩa vụ trả cho bà Lâm Thị Xuân T 11 lượng vàng 24k (vàng 9999).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về hình thức: Bà Lâm Thị Xuân T khởi kiện ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị Cẩm V yêu cầu trả 11 lượng vàng 24k (9999). Ông C, bà Cẩm V có nơi cư trú ấp LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án Nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông Lê Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Văn C là có căn cứ.
- Về nội dung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay ông Cao Quốc T1 đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị Xuân T yêu cầu ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị Cẩm V trả 11 lượng vàng 24k (vàng 9999), không yêu cầu tính lãi, bà V thừa nhận còn nợ bà T số vàng trên và đồng ý trả. Hội đồng xét xử xét thấy, do chỗ quen biết, bà Cẩm V đã hỏi mượn của bà Xuân T nhiều lần với tổng số vàng là 11,5 lượng vàng 24k (9999) để làm ăn, không tính lãi và không hẹn thời gian trả. Sau khi mượn, bà V đã trả được 05 chỉ vàng 24k (vàng 9999) còn nợ lại đến nay chưa trả. Việc mượn vàng có làm giấy tờ do bà V ký tên. Năm 2017 bà T có đòi nhưng bà V không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Do ông bà Huỳnh Thị Cẩm V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên bà Lâm Thị Xuân T khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm V thực hiện nghĩa vụ trả 11 lượng vàng 24k (vàng 9999) là có cơ sở phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật dân sự.
- Đối với việc bà V trình bày, số vàng này bà vay của bà T để mở Đại lý bán bảo hiểm, nhưng ông C không biết. Khi vay vợ chồng còn sống chung, nhưng bà không có cơ sở gì chứng minh cho lời trình bày của mình. Hội đồng xét xử xét thấy, bà V trình bày việc bà mở Đại lý bảo hiểm tại thị trấn Chợ Mới nơi vợ chồng bà sống, nhưng chồng không biết là không có cơ sở chấp nhận. Bởi việc mở Đại lý bán bảo hiểm tại thị trấn nơi vợ chồng đang sinh sống, là nơi giao dịch nhiều người biết, nên không thể nói ông C không biết được. Do đó, lời trình bày của bà V không có cơ sở để chấp nhận.
- Đối với ông Lê Văn C, tuy không trực tiếp tham gia việc mượn vàng, nhưng đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, nên việc bà T yêu cầu ông có nghĩa vụ liên đới với bà V trả số vàng trên là phù hợp với Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Đối với yêu cầu của bà V xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ, bắt đầu từ tháng 01/2021, ông T1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, số nợ này bà V, ông C thiếu đã lâu, nay lại kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T, nên không thể chấp nhận yêu cầu này.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Ông C, bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
UYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Xuân T.
Buộc ông Lê Văn C, bà Hu nh Thị C m V có nghĩa vụ trả cho bà Lâm Thị Xuân T 11 (Mười một) lượng vàng 24k (vàng 9999).
- Án phí dân sơ thẩm ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị Cẩm V phải chịu 27.548.800đồng (Hai mươi bảy triệu, năm trăm bốn mươi tám ngàn, tám trăm đồng).
Bà Lâm Thị Xuân T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.800.000đồng (Tám trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai số 007804 ngày 02/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; -VKSND huyện Chợ Mới; -Chi cục THADS huyện Chợ Mới; -Các đương sự; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức |