- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN THÁI THỤY CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2019/HSST Ngày 03/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T
H
H
TH I TH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ng Lưu Toàn Nghĩa.
Các H i thẩm nh n d n: Bà Vũ Thị Thúy và ông Nguyễn Bá Đặng
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Toà án ND huyện Thái Thụy.
Đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
ng Nguyễn Cao Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy x t x sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra x t x số: 91/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2019, đối v i:
cáo: TRẦ VĂ G, sinh năm 1992.
Trú tại: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Gi i tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Trần Văn M và bà Trần Thị B. Có vợ là Nguyễn Thị G và một con.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2012.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2019 (Có mặt tại phiên tòa)
Ngư i ch ng ki n:
- ng Trịnh Ngọc T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Khu X thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- ng Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1955. Địa chỉ: Khu Y, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 30/6/2019, Trần Văn G đi xe ôm đến cổng Bệnh viện đa khoa huyện Thái Thụy để mua ma túy về s dụng. Tại đây, G gặp và mua 1 gói ma túy của một người đàn ông khoảng 25 tuổi, không biết tên, địa chỉ v i giá 300.000 đồng. G cầm gói ma túy, đang tìm xe ôm chở về thì bị tổ công tác Bộ tư lệnh vùng cảng sát biển 1 b t quả tang, đưa về trụ sở UBND thị trấn Diêm Điền làm việc. Tiến hành kiểm tra người G trư c sự chứng kiến của ông Trịnh Ngọc T, ông Nguyễn Sỹ H, tổ công tác thu giữ trong lòng bàn tay trái G đang cầm 1 túi nilon không màu, một m p viền màu xanh, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt (niêm phong mẫu A1). G khai đó là ma túy loại Methamphetamine vừa mua v i giá 300.000 đồng để s dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản b t người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, sau đó tiến hành khám x t khẩn cấp nơi ở của G nhưng không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 306/KLGĐ-PC09 ngày 01/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất dạng tinh thể trong suốt trong phong bì niêm phong A1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4111 gam.
Tại phiên tòa, Trần Văn G đã thành khẩn khai nhận việc mua gói ma túy cất giữ trong người và bị b t như trên.
Tại bản cáo trạng số 86 ngày 26/8/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng x t x căn cứ khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, x phạt bị cáo từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung, tịch thu tiêu hủy gói ma túy và buộc bị cáo phải chịu án phí.
Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, x lý vật chứng và không tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng x t x giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định:
Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo phù hợp v i các tài liệu, chứng cứ: Biên bản b t người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của những người chứng kiến: Ông Trịnh Ngọc T và ông Nguyễn Sỹ H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ 0,4111 gam ma túy để s dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện v i lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nư c đối v i các chất gây nghiện, làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây bức xúc trong nhân dân.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc đưa vụ án ra x t x và x bị cáo mức hình phạt tương xứng là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, để răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm chung.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các trường hợp sau đ y, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu m t phần hoặc toàn b tài sản."
Bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải, đã thực hiện nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo tàng trữ ma túy để s dụng cho bản thân, lượng ma túy không l n, thu nhập của bị cáo thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.
Ma túy thu giữ của bị cáo thuộc loại Nhà nư c cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Về nguồn gốc số ma túy, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ người bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/ UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Tuyên phạt bị cáo Trần Văn G 1 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b t tạm giữ, ngày 01/7/2019.
3. Về l ật ch n :
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, A1 hoàn trả
(Các đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 27/8/2019)
4/ Về án phí: Bị cáo G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.
5/ Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 03/10/2019./. Nơi nh n:
T H I Đ G T
TH
- Người tham gia tố tụng;
TH
H - H T
HI T
- VKSND Thái Thụy;
- Trại tạm giam Thái Bình;
(đã ký)
- Công an Thái Thụy;
- Chi cục THADS Thái Thụy;
- Tòa án tỉnh Thái Bình;
To n h a
- VKSND tỉnh Thái Bình;
- Lưu HCTP;
- Hồ sơ vụ án.