- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2019/HS-ST Ngày 29-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Thùy Vân;
Ông Phạm Xuân Hào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Minh T, sinh ngày 27/3/1999 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công Minh, sinh năm 1976 (đã chết) và bà Đỗ Thị Thu Thúy, sinh năm 1981; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Hồng Diệu, sinh năm 1999 và 01 người con, sinh năm 2019; tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2019 cho đến nay.
Bị cáo có m t tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Lê Phúc L; Vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Minh T là đối tượng nghiện ma túy từ khoảng tháng 7 năm 2017 cho đến nay, loại ma túy mà T sử dụng là loại ma túy đá, T giao dịch mua ma túy với một người không rõ nhân thân lai lịch có nick game Bigclup nổ hũ, mỗi lần mua với số tiền 200.000 đồng. T mua nhiều lần nhưng không nhớ rõ, thời gian địa điểm mua bán. Cụ thể lần gần nhất là khoảng 19 giờ ngày 31/10/2019, Huỳnh Minh T đến tiệm nét bà Hiền tại khu phố 7, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương, chơi game Bigclup nổ hũ, đăng ký tên nhân vật “Trumthua 113” liên hệ với nhân vật “Linhmientay1” hỏi mua ma túy với số tiền 240.000 đồng (trong đó 200.000 đồng là tiền mua ma túy, 40.000 đồng là lệ phí game) thì tài khoản Linhmientay1 đồng ý và hẹn T khoảng 20 giờ cùng ngày đến ngã ba Kỉnh Nhượng, xã Vĩnh Hòa, huyện P lấy ma túy được cất giấu trong bao thuốc lá hiệu Hòa Bình ở gốc cây bàng bên phải hướng từ thị trấn Phước Vĩnh đi xã Vĩnh Hòa. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T bắt xe khách từ nhà thuộc ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa đến ngã ba Kỉnh Nhượng, xã Vĩnh Hòa, T đi bộ đến vị trí đã hẹn trước đó để lấy ma túy rồi cất vào túi áo khoác phía trước bên trái mà T đang m c. Sau khi lấy được ma túy, T bắt xe khách về nhà nghỉ Lê Nhi thuộc ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Hòa, huyện P rồi đi bộ vào nhà bạn của T là Nguyễn Lê Phúc L. Lúc này, L không ở nhà, T vào phòng ngủ của L lấy 01 chai nhựa hiệu Sting và một ống thủy tinh để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Khi T đang sử dụng thì L đi về đến nhà nên T rủ L cùng sử dụng ma túy, L đồng ý. Sau khi sử dụng xong, số ma túy còn lại T gói vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng đem cất vào túi quần bên phải đang m c rồi đi mua hủ tiếu về nhà L để ăn thì lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 (hai) gói ni lông hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng được gói trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (hai nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp nhà bà Nguyễn Thị Ngọc Giàu thuộc tổ 6, ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Hòa, huyện P, tỉnh Bình Dương. Thu giữ được: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa Sting và 01 (một) ống thủy tinh.
Kết luận giám định số 815/MT-PC09 ngày 05/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1719 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
+ 02 (hai) gói ni lông hàn kín bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng được gói trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. 02 (hai) gói ni lông hàn kín này đã được niêm phong trong một phong bì có chữ ký của người bị bắt Huỳnh Minh T, chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Phú Quí và hình dấu đỏ của Công an xã Vĩnh Hòa, huyện P, tỉnh Bình Dương để giám định. Sau khi phục vụ công tác giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương hoàn lại mẫu vật sau giám định được niêm phong, trọng lượng 0,1463 gam.
+ 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng dùng để gói 02 bịch nilon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
+ 01 (một) chai nhựa hiệu Sting, 01 (một) ống thủy tinh.
Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKSPG ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Huỳnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2019.
Về xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định được niêm phong, 0,1463 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) chai nhựa hiệu Sting; 01 (một) ống thủy tinh.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải mong muốn được xét xử nhẹ để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. HĐXX xét thấy các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Minh T khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 31/10/2019, bị cáo Huỳnh Minh T giao dịch mua ma túy với số tiền 240.000 đồng qua internet, trả tiền thông qua tài khoản game và nhận ma túy tại ngã ba Kỉnh Nhượng, xã Vĩnh Hòa, huyện P. Nhận ma túy xong, bị cáo T đi đến nhà của Nguyễn Lê Phúc L để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, số ma túy còn lại T gói vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng đem cất vào túi quần bên phải đang m c thì bị Lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 02 (hai) gói ni lông hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng được gói trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (hai nghìn đồng). Theo kết luận giám định số 815/MT-PC09 ngày 05/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1719 gam, loại Methamphetamine. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo T đã tàng trữ ma túy, có trọng lượng 0,1719 gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành. Ma túy đang là hiểm họa của nhân loại vì nó không những gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng mà còn làm lây lan nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Mẫu vật sau giám định được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có khối lượng: 0,1463 gam và 01 (một) chai nhựa hiệu siting, 01 (một) ống thủy tinh, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng dùng để gói 02 bịch ni lông hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các tình tiết khác đối với bị cáo cũng như về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được HĐXX xem xét chấp nhận.
Đối với người có tài khoản game Linhmientay1 không rõ nhân thân, lai lịch là người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau nên HĐXX không đề cập.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2019.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có khối lượng: 0,1463 gam và 01 (một) chai nhựa hiệu Sting, 01 (một) ống thủy tinh.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.
(Thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/11/2019 giữa Công an huyện P với Chi cục THADS huyện P)
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND tỉnh Bình Dương; (1) - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; (1) - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND huyện P; (1) - Công an huyện P; (2) - Chi cục THADS huyện P; (1) - Bị cáo; (1) - Lưu hồ sơ, VP. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Lâm |