- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Mạnh H - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Mạnh H phạm tội “Chứa mại dâm".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2019/HS-ST Ngày 26 -11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Bằng và bà Nguyễn Thùy Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2019/TLST-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Ngô Mạnh H; sinh ngày 15 tháng 9 năm 1974, tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Xuân M (đã chết) và bà Phạm Thị T; có vợ là Triệu Thị Đ và 04 con (Con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2000); tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/9/2019 đến ngày 25/9/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
- Người làm chứng:
+ Chị Hồ Thị B, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
+ Anh Lương Văn C, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện Z, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Mạnh H được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy kinh doanh nhà nghĩ, karaoke S tại thôn X, xã Z, huyện Z từ tháng 5 năm 2014. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, H thuê Hồ Thị B đến làm nhân viên phục vụ cho khách đến hát karaoke tại quán S và thỏa thuận trả cho B mỗi giờ 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), nếu có khách muốn mua dâm thì B sẽ thực việc bán dâm, mỗi lần "đi nhanh" H thu của khách 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), H hưởng lợi 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) và chia cho B 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng), nếu bán dâm qua đêm H thu của khách 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), H và B mỗi người lấy 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khoảng 21 giờ ngày 22/9/2019 có Lương Văn C đến nhà nghĩ S gặp H và hỏi "ở đây có đi nhanh không", ý là hỏi có gái bán dâm không thì H chỉ về phía Hồ Thị B và nói "có con bé đó" rồi thỏa thuận với C đi nhanh 200.000 đồng. Sau khi đưa cho H 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng), C được B dẫn lên phòng 301 nhà nghĩ S, tại đây B và C tự cởi áo quần ra, B đưa cho C 01 bao cao su nhãn hiệu OKAMEN, C xé võ bao rồi lấy bao cao su bên trong đeo vào bộ phận sinh dục của mình, C và B đang thực hiện hành vi mua bán dâm đến khoảng 21 giờ 40 phút ngày 22/9/2019 thì bị tổ công tác Công an huyện Bố Trạch kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 16, 30, 38, 41, 51).
Vật chứng vụ án: Thu giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 29E-8004552/HKD lần đầu ngày 09/5/2014, 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 221/GCN ngày 26/4/2018 và 01 giấy phép kinh doanh Karaoke số 46/GP-SVHTTDL ngày 02/6/2014, tất cả đều mang tên Ngô Mạnh H lưu theo hồ sơ vụ án; Thu tại phòng 301 nhà nghĩ S 04 bao cao su nhãn hiệu OKAMEN, trong đó 03 bao còn nguyên, 01 bao đã bị xé sử dụng và 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính hiện chưa xử lý (BL 16, 21).
Cáo trạng số: 88/CT-VKSBT ngày 08/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố Ngô Mạnh H về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ Luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ Luật hình sự, tuyên xử Ngô Mạnh Hổ mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng; đề nghị tuyên xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ nhận hành vi phạm tội của mình đã thực hiện giống như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình đã gây ra là vi phạm pháp luật, nên rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng chính sách khoan hồng của Pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Phiên toà vắng mặt tất cả người làm chứng. Tuy nhiên, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.
Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và tang vật được thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ động cơ hám lợi và ý thức coi thường pháp luật, ngày 22/9/2019 Ngô Mạnh H đã có hành vi sử dụng cơ sở kinh doanh do mình quản lý để chứa 01 đôi nam, nữ thực hiện hành vi mua bán dâm nhằm thu lợi bất chính thì bị lực lương chức năng phát hiện bắt quả tang.
Với hành vi vi phạm pháp luật như trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ Luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Ngô Mạnh H là người trưởng thành, có nhận thức nhất định về pháp luật, lẽ ra bị cáo phải biết được hành vi chứa mại dâm bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do ý thức coi thường pháp luật và hám lợi nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị pháp luật hình sự nghiêm cấm, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỷ tục và lối sống lành mạnh trong xã hội. Do đó, cần phải xét xử nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có quá trình nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đều có thái độ thành khẩn trong khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bố bị cáo là ông Ngô Xuân M (tức là Ngô Văn M) được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội cũng như quá trình nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, trình độ học vấn thấp, bản thân bị cáo đang điều trị bệnh đái tháo đường. Do đó, xét chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của án treo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 65 của Bộ Luật hình sự và đã có đủ tác dụng giáo, dục răn đe đối với bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ Luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu với số tiền thu lợi bất chính không lớn cho nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 29E-8004552/HKD lần đầu ngày 09/5/2014, 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 221/GCN ngày 26/4/2018 và 01 giấy phép kinh doanh Karaoke số 46/GP-SVHTTDL ngày 02/6/2014, tất cả đều mang tên Ngô Mạnh H đang lưu theo hồ sơ vụ án là những giấy tờ có liên quan đến công việc kinh doanh của bị cáo nhưng đã được sao lưu trong hồ sơ vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối 04 bao cao su nhãn hiệu OKAMEN, trong đó 03 bao còn nguyên, 01 bao đã bị xé sử dụng là vật chứng vụ án nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ tại bị cáo là số tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có nên phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Trong vụ án này còn có Hồ Thị B và Lưu Văn C là những người mua, bán dâm với nhau đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng cần nghiêm khắc phê bình đối với hành vi này nhằm góp phần đấu tranh trong công tác phòng chống các tệ nạn xã hội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Điều 47; Điều 136 của Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử,
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Mạnh H phạm tội “Chứa mại dâm".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Mạnh H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/11/2019)
Giao bị cáo Ngô Mạnh H cho UBND xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
3. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 29E-8004552/HKD lần đầu ngày 09/5/2014, 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 221/GCN ngày 26/4/2018 và 01 giấy phép kinh doanh Karaoke số 46/GP-SVHTTDL ngày 02/6/2014 cho bị cáo Ngô Mạnh H (Số vật chứng này đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án. Khi bản án có hiệu lực pháp luật sẽ được Tòa án chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch để trả lại cho bị cáo)
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có chưa 04 bao cao su đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký và tên Ngô Mạnh H.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Gồm 02 tờ tiền polyme, mổi tờ có mệnh giá 100.000 đồng) do bị cáo thu lợi bất chính mà có.
Các vật chứng trên có số lượng, đặc điểm được mô tả theo như Quyết định chuyển vật chứng số: 56/QĐ-VKSBT, ngày 08/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ (26/11/2019)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - VKSND tỉnh QB; - Sở Tư pháp tỉnh QB; - Phòng PV 06 CA tỉnh QB; - VKSND huyện Bố Trạch; - CA huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - UBND xã Thanh Trạch, Bố Trạch; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP, THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Trung Thành |