- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2019/HS-PT Ngày: 14-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Quang Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Trinh
Ông Nguyễn Hoàng Quí
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2019/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Trần Công T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2019/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Công T (Tên gọi khác: C), sinh năm: 1989.
Trú tại: 22/23/78C, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Lan Q và bà Lâm Thị K; Vợ: Phan Thị Kim O (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2013; tiền án: Ngày 24/3/2017 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 17/7/2018; tiền sự: Không; Bị bắt ngày: 12/01/2019. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 11/01/2019, sau khi nhận tin báo của quần chúng nhân dân, có đối tượng là nam, điều khiển xe mô tô biển số 65B2-230.71, đang dừng trước khách sạn 178, đường B, phường D, quận S. Nhiều nghi vấn liên quan đến ma túy. Công an phường D đã cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an quận S, tiến hành khám xét khẩn cấp người và phương tiện đối với đối tượng Trần Công T, thu giữ: 01 gói nilon hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu (thu giữ trong túi quần jean phía trước, bên trái T đang mặc); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 xe mô tô biển số 65B2-230.71
Tại kết luận giám định số 122/KL-PC09, ngày 18/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định có chữ ký tên Trần Công T là ma túy, khối lượng 0,1060 gam loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra Trần Công T khai nhận, sử dụng trái phép chất ma túy được khoảng 01 tuần trước khi bị bắt, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá.
Vào ngày bị bắt, khoảng 22 giờ, T nhận được điện thoại của một người tên N (chưa rõ lai lịch) rủ đến khách sạn 178 đường B, phường D để sử dụng ma túy. T đồng ý, nên điều khiển xe mô tô biển số 65B2-230.71 đến điểm hẹn. Trên đường đi, T gặp N, N có đưa ma túy kêu T đem đến khách sạn trước, N sẽ đến sau. Khi đến khách sạn 178, T đang chờ N thì bị lực lượng chức năng khám xe và thu giữ ma túy, số ma túy này T cất giấu tại túi quần jean phía trước bên trái mà T đang mặc.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2019/HSST ngày 16/5/2019 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Công T 02 năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2019.
Ngoài ra, bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, vào ngày 22/5/2019, bị cáo Trần Công T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do có con nhỏ.
Kiểm sát viên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm do đã xét xử đúng người đúng tội và hình phạt đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm vận dụng, tại tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở xem xét kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã tuân thủ các quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Do bị cáo có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo nên cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Các lý do kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo đã được xem xét ở cấp sơ thẩm; mức án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2019.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Cần Thơ; - Trại tạm giam; - Cơ quan tố tụng quận Ninh Kiều; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thái Quang Hải |