- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Viết M - Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lê ̣ phi Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2019/DS-ST Ngày: 29-11-2019 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (danh dự, nhân phẩm, uy tín) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Đặng Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 163/2018/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2019 về việc “tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (danh dự, nhân phẩm, uy tín)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2019/QĐST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết M, sinh năm 1963; HKTT: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1994. HKTT: Thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Quãng Ngãi; Tạm trú: khu phố B, thị trấn D, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (văn bản uỷ quyền ngày 01/4/2019).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; ngụ tại: Ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Thanh N, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã X, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/11/2019).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, người đại diện hợp pháp đại diện bị đơn có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 26/3/2019, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông M (ông L) trình bày:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/12/2018, ông M có vào nhà bà T để tặng quà sinh nhật và lịch chúc mừng năm mới. Tuy nhiên khi vào đến nhà bà T thì bà T đã xông ra chửi mắng ông M là đồ lừa đảo, là người chiếm đoạt tài sản của bà. Sau đó, nhân lúc ông M đặt lịch và quà xuống bàn, bà T vòng ra phía sau khóa trái cửa cổng lại rồi lao vào xé áo hành hung ông M, xúc phạm danh dự của ông M, lúc đó có sự chứng kiến của chồng bà T là ông Hai bé. Tuy nhiên ông Bé cũng không hề can ngăn để mặc cho bà T tấn công ông M. Trước sự tấn công ồ ạt của bà T, ông M không thể chống trả lại, chỉ cố tìm đường thoát thân (bỏ chạy và nhảy qua hàng rào) sau đó lấy xe về nhà.
Qua sự việc trên bà T đã vô cớ đánh ông M, hành vi của bà T thể hiện sự côn đồ, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần, nhân phẩm của ông M được pháp luật bảo vệ.
Ngày 15/12/2018, ông M đã tố cáo bà T đến Công an xã An Lập để giải quyết. Công an xã An Lập đã mời các bên lên để làm việc và xác minh. Kết quả bà T bị Công an xã An Lập đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng cử chỉ lời nói xúc phạm danh dự nhân phẩm của ông M với số tiền 200.000 đồng.
Ông M yêu cầu bà T bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền là 13.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định ông M yêu cầu bồi thường đối với hành vi của bà T xảy ra chiều ngày 14/12/2018 và tối ngày 14/12/2018 qua điện thoại. Ông M yêu cầu bà T bồi thường số tiền 13.500.000 đồng bao gồm chi phí 03 ngày nghỉ để giải quyết vụ khiếu nại của ông M đối với bà T tại Công an xã An Lập (01 ngày gửi đơn; 01 ngày lên Công an giải quyết và 01 ngày nhận công văn trả lời giải quyết khiếu nại) 500.000 đồng x 3 ngày = 1.500.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 12.000.000 đồng.
Ngoài ra, ông L không có ý kiến gì khác.
* Theo bản tự khai ngày 14/6/2019, quá trình tham gia tố tụng bị đơn (bà T) và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn (ông N) trình bày:
Vào khoảng 18 giờ ngày 14/12/2018, ông M có vào nhà bà T nói là để tặng quà sinh nhật do Công ty Prudential tặng (sinh nhật của bà T tháng 8 mà ông M không đưa quà nên bà T khiếu nại đến Công ty). Do ông M mới mang quà đến trễ nên các bên có lời qua tiếng lại. Ông M có mùi rượu, thấy bà T ở một mình nên cố ý nhào vào người bà T để sàm sỡ, thì bà T có xô ông M ra và la lớn, lúc đó chồng bà T từ trong nhà bước ra nên ông M bỏ chạy ra xe và đi về. Do bà T thấy sự việc không nghiêm trọng nên bỏ qua. Sau khi về nhà thì ông M gọi điện cho bà T, do còn nóng giận vì sự việc buổi chiều nên bà T có lớn tiếng chửi mắng và ông M ghi âm lại. Ngày 26/12/2018, thì Công an xã An lập mời các bên lên giải quyết nhưng không thành công chờ đến ngày 11/01/2019 giải quyết tiếp nhưng bà T bị bệnh không tham gia được. Ngày 01/02/2019, bà T bị xử phạt vi phạm hành chính về với số tiền là 200.000 đồng.
Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông M thì bà T không đồng ý, vì bà T không gây tổn hại gì về danh dự, uy tín, nhân phẩm cho ông M.
Ngoài ra bà T không có ý kiến gi khác.
̀
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (danh dự, nhân phẩm, uy tín)”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, sau khi nghe lời trình bày của các đương sự Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Viết M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín với số tiền là 13.500.000 đồng. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (danh dự, nhân phẩm, uy tín)” theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T có nơi cư trú tại ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; ông M có nơi cư trú tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương và nơi xảy ra thiệt hại là ấp K, xã A nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn cho rằng: Bà T vô cớ đánh ông M, xúc phạm danh dự của ông M. Bà T đã bị Công an xã An Lập đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng cử chỉ lời nói xúc phạm danh dự nhân phẩm của ông M với số tiền 200.000 đồng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bà T bồi thường danh dự về hành vi xúc phạm xảy ra vào sáng ngày 14/12/2018 tại nhà bà T và buổi tối ngày 14/12/2018 qua điện thoại với số tiền là 13.500.000 đồng.
Bị đơn cho rằng: Ông M mang quà đến nhà và các bên có lời qua tiếng lại, do ông M có mùi rượu, thấy bà T ở một mình nên cố ý nhào vào người bà T để sàm sỡ nên bà T có xô ông M ra và la lớn, thì chồng bà T từ trong nhà bước ra nên ông M bỏ chạy ra xe và đi về. Sau khi về nhà thì ông M gọi điện cho bà T, do còn nóng giận vì sự việc buổi chiều nên bà T có lớn tiếng chửi mắng và ông M ghi âm lại. Ngày 26/12/2018, thì Công an xã An lập mời các bên lên giải quyết nhưng không thành công chờ đến ngày 11/01/2019 giải quyết tiếp nhưng bà T bị bệnh không tham gia được. Ngày 01/02/2019, bà T bị xử phạt vi phạm hành chính về với số tiền là 200.000 đồng .
Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với yêu cầu bồi thường về hành vi xúc phạm xảy ra vào chiều ngày 14/12/2018 tại nhà bà T. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày bà T có hành vi lao vào xé áo hành hung, xúc phạm danh dự của ông M. Nhưng Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh về việc bà T có hành vi hành hung, xúc phạm danh dự của ông M. Do đó ông M yêu cầu bà T bồi thường danh dự về hành vi xảy ra chiều ngày 14/12/2018 là không có cơ sở.
Đối với yêu cầu bồi thường về hành vi xúc phạm xảy ra vào buổi tối ngày 14/12/2018 qua điện thoại: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án một bản file ghi âm cuộc nói chuyện điện thoại giữa ông M và bà T vào tối ngày 14/12/2018. Bà T thừa nhận giọng nói trong file ghi âm là của bà. Xét nội dung lời nói trong file ghi âm thì bà T có lời nói thô tục, xúc phạm ông M. Tuy nhiên những lời nói này bà T chỉ nói qua điện thoại, bà T không có phát tán tung tin gì đối với ông M. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thiệt hại do hành vi xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của ông M do bà T gây ra. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng bà T liên tục gửi đơn đến Công ty Prudential nơi ông M làm việc làm ông M mất thời gian, danh dự. Hội đồng xét xử xét thấy việc bà T gửi đơn khiếu nại đến Công ty là việc giữa khách hàng và Công ty bảo hiểm, không phải là việc phát tán tung tin xúc phạm ông M. Do đó, ông M yêu cầu bà T bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín là không có cơ sở chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Đây là vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự nhân phẩm nên ông M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 40, 147, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lê ̣ phi Tòa án.
́
́
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của ông Nguyễn Viết M đối với bà Nguyễn Thị T.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Viết M không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CCTHA DS huyện Dầu Tiếng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thùy Linh |