- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Hùng A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương A phạm tội "Tàng trữ trái phép
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2018/HS-ST Ngày 14/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Tuấn Sỹ.
Bà Hà Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Lục Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại Nhà văn hóa khối T, phường P, thành phố
L, tỉnh Lạng Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/HSST
ngày 11 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
98/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lương A, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1978 tại L;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 12, đường V, khối T,
phường P, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trinh độ văn hóa:
̀
Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Lương Anh B và bà Trần Thị C; vợ: Lương Mỵ O và có 02 con, con lớn
sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L từ ngày
19/3/2018 đến nay.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị C, địa chỉ: Số 12,
đường V, khối T, phường P, thành phố L, tỉnh Lạng Sơm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/3/2018, Công an thành phố L tiến hành điều tra vụ án trộm cắp
tài sản. Quá trình điều tra Công an thành phố L đã mời Lương A là đối tượng có
liên quan đến vụ trộm cắp tài sản lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra Công an thành phố L đã xét nghiệm nước tiểu của Lương A và xác định dương tính với chất ma túy. Tiến hành kiểm tra trên người Lương A và phát hiện trong túi quần bên phải có 01 đoạn ống mút bằng nhựa dài 02cm bên trong có 01 gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 130/PC54 ngày 21/3/2018 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất tinh thể màu trắng có trong gói nilon là tang vật thu giữ của Lương A chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 0,108 gam.
Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSTPLS, ngày 10/5/2018 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lương A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình
như nội dung cáo trạng đã nêu, cụ thể:
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và nhiều lần đã mua ma túy để sử
dụng. Khoảng 15h30 ngày 19/3/2018 Lương A điều khiển xe moto Honda Wave, biển kiểm soát 12F1-1993 từ nhà ra chợ P, phường P, thành phố L để giúp vợ dọn hàng. Sau đó Lương A đi lên dốc E, phường G, thành phố L để mua ma túy về sử dụng. Đến đó Lương A gặp D còn gọi là D (Vân) và hỏi mua với D 01 gói ma túy giá 100.000đ. Mua được ma túy Lương A cất gói ma túy vào trong túi quần bò bên phải, đằng trước đang mặc rồi đi về nhà. Khi vừa về đến nhà thì Công an thành phố L gọi lên làm việc và bị phát hiện thu giữ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C khai: Bà không hề
biết việc con trai bà là Lương A sử dụng xe moto để đi mua ma túy ngày 19/3/2018 vì thông thường A vẫn sử dụng xe moto để đi cùng vợ ra chợ bán hàng. Nay bà đề nghị trả lại cho gia đình bà chiếc xe moto BKS: 12P1-1993 để gia đình bà có phương tiện đi lại.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên
quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lương A từ 15 đến 18 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống mút bằng nhựa dài
02cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12F1-1993 màu xanh, đen có số khung RLHHC 12308Y34507; Số máy HC 12E 2069819. Qua điều tra xác định được chiếc xe này là của bà Trần Thị C, sinh năm 1957 do vậy sẽ trả lại cho bà Trần Thị C.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh
luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề
nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã
hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố L,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên: Trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Lương A tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm
tội quả tang, kết luận giám định và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ
vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 19/3/2018 Lương A đã có hành vi tàng
trữ 0,108 gam ma túy Methamphetamine. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện
kiểm sát nhân dân vè tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại điểm c khoản
1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy
là độc dược gây nghiện, rất có hại đối với sức khỏe con người do Nhà nước độc
quyền quản lý. Việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy luôn là nhiệm vụ cấp
bách của toàn xã hội, chính vì vậy mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của
pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, biết rõ tác hại của ma
túy cũng như các quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy, nhưng do lối
sống buông thả dẫn đến nghiện ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan
điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với
bị cáo không có.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài
sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét lời luận tội và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp
dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị
cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông tên D là người đã bán ma túy cho Lương A, do
Lương A chỉ biết tên là D không biết họ, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đủ cơ sở để điều tra xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật
sau giám định sẽ tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô biểm kiểm soát 12P1 - 1993 xét thấy đây là phương tiện duy nhất của gia đình bị cáo, phần lớn số tiền để mua chiếc xe này là của mẹ bị cáo. Do vậy, sẽ trả lại chiếc xe mô tô cho bị cáo.
Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2
Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương A phạm tội "Tàng trữ trái phép
chất ma túy".
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lương A 12 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/3/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật sau giám định.
Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô HONDA WAVE màu xanh đen, biển kiểm
soát 12P1 - 1993, số khung: RLHHC 12308934507; số máy: HC12E2069819
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/5/2018)
4. Về án phí:
Buộc bị cáo Lương A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để
sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSNDTP Lạng Sơn; - CCTHADS TP Lạng Sơn - UBND phường P; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Bằng |