vanban.org

Bản án 87/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Hồ Xuân T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo giam bị cáo là ngày 28/8/2017 Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Xuân T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2017/HSST
Ngày 26/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoa

Bà Phan Thị Ngọc Loan

-Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2017/HSST ngày 10/11/2017 đối với bị cáo:

Hồ Xuân T, sinh năm: 1995, tại Bình Phước; HKTT và chỗ ở: Ấp 5, xã T, huyện N, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm vườn; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Cha: Hồ Minh K – Sinh năm: 1958; Mẹ: Lê Thị T – Sinh năm: 1959; Bị cáo có 05 chị em, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Lộc Ninh từ ngày 28/8/2017 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại:

Lý Hữu N, sinh năm 1992

HKTT: ấp 5, xã T, huyện N, tỉnh Bình Phước.

Có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Song sinh năm 1983

HKTT: ấp C, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước.

- 1 -

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ, ngày 20/4/2017, Hồ Xuân T ngồi uống nước cùng bạn là Đặng Bá P và Nguyễn Thường Gia S tại quán “ Bin Su” thuộc ấp C, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước. Do không có tiền nên T đã nảy sinh ý định lừa anh Lý Hữu N để chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 - 5315 của N để cầm lấy tiền trả tiền nước và mua ma túy về sử dụng. Lúc này, T sử dụng điện thoại Nokia, màu trắng đen của T rồi gọi điện cho N nói dối là mượn xe mô tô của N để nhờ Phan Phước Th (ở gần nhà N) đến lấy xe để chở T về nhà thì được N đồng ý. Sau đó, T gọi điện cho Th đến nhà N lấy xe chạy ra quán nước đưa cho T. Sau khi lấy được xe, T nhờ P mang xe của N đi cầm. Phú cùng Lê Hoàng H đến tiệm cầm đồ tên: “ Châu” thuộc ấp C, xã Q cầm cho bà Phạm Song N được 1.000.000 đồng. P và H cầm tiền về đưa cho T. T trả tiền nước hết gần 300.000 đồng và đưa cho P 300.000 đồng để đi mua ma túy về cùng S, H và P sử dụng. Số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết. Còn anh N không thấy T trả xe nên đã làm đơn trình báo Công an xã T (bút lục: 01, 23 – 25, 28 – 31, 35 – 38, 46- 47).

Ngoài ra, Triều còn khai nhận: Vào tối ngày 17/8/2016, T nhờ N nhà ở Bình Dương (không xác định nhân thân, lai lịch) mượn xe mô tô hiệu Yamaha, biển số: 93T9-1231 của Nguyễn Trường H, sinh năm: 1992, HKTT: Ấp 8, xã T, huyện N, tỉnh Bình Phước để chở T về phòng trọ ngủ. Đến sáng ngày 18/8/2016,T lấy xe mô tô của H đi công chuyện rồi cầm xe để lấy tiền đánh bạc và tiêu xài cá nhân (bút lục 26-27, 32).

Quá trình điều tra Công an huyện Lộc Ninh đã thu giữ của Phạm Song N 01 xe mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 - 5315(bút lục: 17).

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 01/5/BBKL.ĐGTS ngày 08/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Lộc Ninh thì chiếc xe mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 - 5315 có giá là: 4.000.000 đồng (bút lục: 19).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 – 5315 cho Lý Hữu N là chủ sở hữu hợp pháp. Anh N không yêu cầu bồi thường.

Hồ Xuân Triều đã bồi thường cho chị Phạm Song Nt 1.000.000 đồng tiền cầm xe, chị N không yêu cầu bồi thường.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- 2 -

Tại bản cáo trạng số: 84/CTr-VKS ngày 10/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo Hồ Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 BLHS.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 139 BLHS; điểm b, g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS

Xử phạt bị cáo: Hồ Xuân T từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà xét xử công khai hôm nay bị cáo đã hoàn toàn thú nhận hành vi phạm tội của mình gây ra, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên có đủ cơ sở để khẳng định:

Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã nói với anh Lý Hữu N cho bị cáo mượn xe mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 - 5315 để đi về nhà do bị cáo không có xe. Anh N tin tưởng bị cáo nên đã cho bị cáo mượn, nhưng thực tế bị cáo không đi về nhà mà chiếm đoạt xe của anh N và cầm cố xe để lấy tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng. Do đó hành vi của bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để người bị hại tin tưởng và giao xe nhằm chiếm đoạt mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 - 5315 của anh N. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 01/5/BBKL.ĐGTS ngày 08/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Lộc Ninh thì chiếc xe mô tô hiệu Hamco, màu nâu, biển số: 93H3 - 5315 có giá là: 4.000.000 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có giai đoạn chuẩn bị phạm tội rõ ràng, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh,

- 3 -

xem thường pháp luật, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cá nhân được luật pháp bảo vệ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị. Song do lười biếng lao động, không lo tu chí làm ăn, muốn có nhiều tiền để tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi chiếm đoạt tài sản đều đủ dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 139 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 BLHS là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử cần xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có đủ điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.

Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bà Phạm Song N; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS. Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với bà Phạm Song N đã cầm xe của T nhưng không biết tài sản là do T phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh không xử lý là phù hợp.

Đối với Đặng Bá P, Nguyễn Thường Gia S, Lê Hoàng H và Phan Phước Th hiện nay đã bỏ đi khỏi địa phương không làm việc được. Mặt khác Tu khai nhận việc Triều lừa đảo xe mô tô của Lý Hữu N thì S, P, Hoàng H và Th không biết nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Đối với hành vi Triều cầm xe của Nguyễn Trường H, hiện nay do H đang điều trị bệnh tâm thần nên chưa làm việc được. Do vậy chưa có cơ sở để xử lý T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh tách ra để tiếp tục điều tra xử lý vụ án khác là phù hợp.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản đã thu hồi giao trả cho người bị hại. Tại phiên tòa người bị hại là anh Lý Hữu N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 4 -

Bị cáo đã bồi thường cho bà Phạm Song N số tiền 1.000.000 đồng, tại phiên tòa bà N vắng mặt, tuy nhiên tại cơ quan điều tra không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1) Áp dụng khoản 1 Điều 139 BLHS; điểm b, h, g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 33 BLHS.

- Xử phạt bị cáo: Hồ Xuân T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo giam bị cáo là ngày 28/8/2017

2) Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra.

4) Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS. Luật phí, lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST.

Báo cho bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú lên Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước

- VKS huyện Lộc Ninh

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- Bị cáo, người bị hại

- Chi cục THADS huyện Lộc Ninh

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước

- CA huyện Lộc Ninh

- CA tỉnh Bình Phước

- Lưu hồ sơ vụ án

Đỗ Văn Hùng

- 5 -

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- 6 -

- 7 -

Cỡ chữ