vanban.org

Bản án 868/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh D là được ly hôn với bà Phạm Thị T. Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 28/3/2006 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 868/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11-7-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc;

2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 267/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: 147/2 đường P, tổ 32, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: 147/2 đường P, tổ 32, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 15/02/2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D trình bày:

Ông và bà Phạm Thị T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 28/3/2006. Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng ông thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Bà T cờ bạc, không lo cho gia đình. Vợ chồng ông bà đã ly thân 03 (ba) năm nay. Ông đã nhiều lần khuyên bà T hãy vì gia đình và con cái, sống hòa thuận và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng bà T vẫn không thay đổi. Hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị T.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/5/2002 (đã thành niên).

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Bị đơn bà Phạm Thị T vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Thanh D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho ông ly hôn với bà Phạm Thị T hiện đang cư trú tại 147/2 đường P, tổ 32, ấp 5, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thị T đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Thanh D và bà Phạm Thị T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 28/3/2006.

Xét lời trình bày của ông D thì sau kết hôn giữa ông và bà T đã có nhiều khác biệt về cách sống và quan điểm sống. Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng ông thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Vợ chồng ông ly thân đã 03 (ba) năm. Hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà Phạm Thị T.

Bà T đã được Tòa án triệu tập nhưng bà không đến Tòa. Bà T cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến, không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông D và bà T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông D đối với bà T là có cơ sở.

Về con chung:

Ông D và bà T có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/5/2002 (đã thành niên).

Về tài sản chung: Ông D trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông D trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà T vắng mặt tại phiên tòa. Nếu bà T có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.

Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Thanh D phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh D là được ly hôn với bà Phạm Thị T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 28/3/2006 không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Ông Nguyễn Thanh D và bà Phạm Thị T có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/5/2002 (đã thành niên).

[3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Thanh D phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001130 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

[6] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ