vanban.org

Bản án 860/2018/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 25/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T i nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2018/HSST ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

ác quy t định khác của Bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật sau khi h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị Án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200 000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh T - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T i nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2018/HSST ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
  • Căn cứ chính? Điều 386 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI
_________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 860/2018/HSPT
Ngày: 25/12/2018

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Bảo Vĩnh;

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Tuân;

Ông Nguyễn Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhật Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 706/2018/TLPT-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Minh T do c kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2018/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Minh T; sinh ngày 09/9/1989; nơi ĐKNKTT: T 53, khu 4, phường H, T phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T1 (đ ch t) và bà Nguyễn Thị L; vợ: Phạm Thị Thu H, c 01 con sinh năm 2011.

Tiền án: Ngày 30/11/2015, Tòa án nhân dân T phố Hạ Long xử phạt 15 tháng t về tội L a đảo chi m đoạt tài sản , ngày 11/11/2016 ra t về địa phương

Tiền sự: Ngày 07/9/2012, cai nghiện b t buộc tại Trung tâm cai nghiện V Oai, Hoành B

Nhân thân: Ngày 22/11/2017, bị b t về tội: Trộm c p tài sản và Tàng tr trái phép chất ma túy Ngày 13/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng t về 2 tội Quy t định thi hành án phạt t số 139/2018/QĐ-CA ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân T phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Bị cáo trốn khỏi nơi giam ngày 11/01/2018 và bị b t lại ngày 18/01/2018, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam ông an tỉnh Quảng Ninh; c mặt

Ngoài ra trong vụ án còn c các bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, nôi dung vụ án như sau:

Hoàng ao là bị can đang bị tạm giam về tội Mua án trái ph p ch t ma t y do ơ quan ảnh sát điều tra ông an tỉnh Quảng Ninh thụ lý điều tra; Nguyễn Minh T là bị can đang bị tạm giam về tội Tr m c p t i n

“T ng tr trái ph p ch t ma t y do ơ quan ảnh sát điều tra ông an T phố Hạ Long thụ lý điều tra o bị bệnh nên và T được điều trị bệnh tại phòng 8 4 Khoa điều trị các bệnh nhiệt đới Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh do Trại tạm giam ông an tỉnh Quảng Ninh quản lý

Tại bệnh viện, và T đều bị kh a còng chân và kh a tay b ng 01 xiềng c dây xích nối liền còng chân và kh a tay, nhưng v n đi lại được trong phòng Khi c bác s khám bệnh hoặc khi đi t m thì mới được mở kh a, sau đ lại kh a lại

Khoảng 14 giờ ngày 11/01/2018. Hoàng Cao C gợi ý với Hoàng Minh T về việc bỏ trốn, T đ đ ng ý, cả hai bàn bạc và thống nhất với nhau về cách trốn khỏi nơi giam: s d ng cây suốt c m chân trên giường bệnh để phá chấn song cửa s và chui ra ngoài hành lang phía sau r i d ng dây buộc để tụt xuống tầng 7, đi qua bu ng bệnh bên dưới để đi ra ngoài Khi trốn ra được thì T chịu trách nhiệm lo tiền đi Uông Bí để xin tiền người quen sau đ s đi ti p về Thái Bình vì ở Thái Bình c người quen thân s lo cho cả hai N u ở Thái Bình không được thì C s nhờ người đưa cả hai sang Trung Quốc, không phải suy nghĩ gì; còn Hoàng Minh T c khả năng mở được kh a, nên C bảo T phá kh a còng chân cho trước để khi trốn c thể mở được kh a còng, T đ ng ý C vào nhà vệ sinh tháo một đinh vít s t ở quạt thông gi đưa cho T để Thành phá kh a T d ng c m chân của T và con vít s t phá bi kh a còng chân cho C, sau đ T d ng que ngoáy tai b ng kim loại do đưa để mở kh a còng chân, kh a tay cho , mở xong T kh a lại như c và lên giường n m để tránh bị phát hiện.

Đ n 16 giờ c ng ngày bảo T đ ng ở ô thoáng cửa ra vào canh người cho C phá chấn song cửa s

đ lấy cây suốt c m tại giường bệnh số 2 vào phòng vệ sinh cậy g y 01 chấn song ngang trên cửa s phòng vệ sinh, lấy cây s t chấn song đ bị bật ra cậy phá kh a cửa s phòng vệ sinh nhưng không được T vào phòng vệ sinh để mở kh a cửa s nhưng c ng không mở được ti p tục ra cửa s phòng bệnh bám vào các chấn song cửa s giật thì thấy c 01 chấn song c mối hàn bị n t c thể phá được, ường thông báo cho T bi t và quay lại giường n m.

Đ n khoảng 22 giờ c ng ngày sau khi tiêm, uống thuốc xong, chờ cán bộ quản giáo và bác s về phòng. C lấy cây suốt c m cậy phá mối hàn song s t cửa s phòng bệnh làm g y rời rơi ra, lại gá song s t lại như c mục đích để quản giáo c kiểm tra c ng không phát hiện được , r i lên giường n m bảo T mở kh a xiềng chân cho . T đ d ng que ngoáy tai b ng kim loại mở kh a xiềng chân, tay cho T và Sau đ , và T n m tr m chăn n i chuyện chờ đ n khoảng 23 giờ 30 phút c ng ngày, cầm vỏ chăn vào phòng vệ sinh xé buộc làm dây, nhưng thấy không ch c ch n lại lấy ga trải giường trên giường của giường số 3 mang vào phòng vệ sinh xé làm 3 mảnh theo chiều d c, nối lại với nhau thành một sợi dây dài, c khoảng 60cm lại th t một nút buộc C bảo T ra khỏi giường d ng chăn, quần áo, vật dụng cá nhân gấp vuông v n lấy chăn bông tr m lên tạo mô hình như c người đang n m ngủ R i vào nhà vệ sinh chờ . C buộc một đầu dây vào song s t phía dưới bên phải cửa s phòng bệnh còn đầu kia v t ra hành lang bên ngoài Buộc xong C bảo T chui qua cửa s ra ngoài hành lang đợi . C quay vào x p chăn làm mô hình, sau đ chui qua cửa s ra sau Khi ra ngoài bám vào dây tụt xuống ban công tầng 7 trước, gi dây đ Thành tụt xuống sau Khi cả 2 đ xuống ban công tầng 7, lấy tay làm bậc cho T bước lên chui qua cửa s vào phòng vệ sinh bu ng bệnh 7 9 Khi vào được phòng vệ sinh, T ra ngoài mở chốt cửa ra vào ban công để đi vào trong Sau đ , cả 2 đi ra phía cửa chính mở cửa đi ra ngoài phòng theo lối cầu thang bộ đi xuống tầng hầm tòa nhà ra c ng đi bộ xuống phố , phường T đ n xe Taxi đi về nhà Thành ở phố H, phường H. T vào nhà xin bà V Thị T2 bà nội T được 700 000 đ ng, quay ra xe đưa cho 500 000 đ ng, cả 2 ti p tục đi đ n khu vực cột đ ng h thành phố Uông Bí trả tiền xe h t 450 000 đ ng đi vào nhà Nguyễn Văn D người quen của để xin tiền, nhưng không c nhà

C và T ti p tục đ n xe Taxi đi ti p đ n Đông Triều vào nhà Nguyễn Duy T3 là người quen của ường ở ên Th , Đông Triều C và T ở nhà T3 đ n 16 giờ ngày 12/01/2018 thì T3 chở và T ra quốc lộ 18 để đi taxi ra cầu Đá Bạc đ n xe khách đi Thái Bình, trước khi đi T3 cho C 01 điện thoại và 1 000 000 đ ng và T đ n xe khách đi đ n ng tư ia Lễ, Thái Bình xuống xe đi vào nhà anh Nguyễn Văn H1 để tìm gặp Nguyễn Văn V em trai anh H1.

Khi đ n nhà anh H1 khoảng 19 giờ ngày 12/01/2018, chỉ c chị Nguyễn Thị H2 là vợ anh H1 ở nhà, và T gặp chị H2 n i là về chơi muốn gặp V c việc hị H2 không bi t và T trốn trại, nên g i điện cho V về ường n i với V là và T v a trốn trại ra nhờ V giúp đ V hỏi án t th nào mà phải trốn, n i: “ m ị ho n ma t y ho ng n m , V hỏi Thành Th ng n y c ng th

T trả lời: m tr m c p t i n t ng tr ma t y c ng i , V nghe xong m ng và T: “ ai con n hai th ng ngu án nh th tr n m g . C n i Bọn em tr n thoát r i anh gi p em V lấy xe chở và T đ n điểm thu mua ph liệu của V và anh H1 tại thôn G, x T, huyện T, tỉnh Thái Bình cách nhà anh H1 khoảng 01 km. V bố trí cho và T ở tại phòng ngủ trong kho. V mua lương thực, thực phẩm để và T chủ động ăn uống, sinh hoạt trong khi trốn Khi c việc ra khỏi phòng thì V cho C và T đi theo hoặc kh a cửa bên ngoài để tránh bị phát hiện. C n i với V xem c việc gì bố trí cho T đi làm Ngày 14/01/2018 V chở và T đ n điểm thu mua con d t của Đoàn uy H3 ở B i d t n Vành, Tiền Hải, Thái Bình để Thành gặp H3 xin làm thuê òn C ở lại điểm thu mua ph liệu của V làm việc theo chỉ đạo của V Ngày 17/01/2018 C xin V quay lại nhà T3 ở Đông Triều, V đ cho 2 000 000 đ ng Trên đường t Thái Thụy về Đông Triều, đ g i điện cho T3 xin ở nhờ, T3 đ ng ý Đ n khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 đ bị b t theo Quy t định truy n khi đang ở nhà T3, Nguyễn Minh T làm bốc vác thuê cho anh Đoàn uy H3 tại n Vành, Tiền Hải, Thái Bình t ngày 14/01/2018 đ n sáng ngày 18/01/2018 bị b t theo quy t định truy n

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2018/HS-ST ngày 31/7/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quy t định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Trốn khỏi nơi giam Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 04 bốn năm t , t ng hợp với hình phạt 30 ba mươi tháng t tại Bản án số 102/2018/HS-ST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân T phố Hạ Long, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 sáu năm 06 sáu tháng t ; thời hạn t tính t ngày 18/11/2018, được tr thời hạn tạm giam t ngày 22/11/2017 đ n ngày 11/01/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quy t định về hình phạt đối với bị cáo C, xử lý vật ch ng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Ngày 13/8/2018, bị cáo Nguyễn Minh T c đơn kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do bị cáo nhận th c pháp luật hạn ch , quá trình điều tra và xét xử bị cáo đ T khẩn khai báo, hiện hoàn cảnh gia đình kh khăn: Bố mẹ đều đ ch t, bà nội già y u, vợ đang đi chấp hành hình phạt t

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh T v n gi nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt vì các lý do đ nêu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội c quan điểm: ấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Minh T về tội Trốn khỏi nơi giam căn c điểm a khoản 2 Điều 386 Bộ luật hình sự 2015 là c căn c , đúng pháp luật và không oan; hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm tr ng, thể hiện ý th c cải tạo kém, tái phạm nên m c hình phạt 04 năm t là không nặng, ph hợp với tính chất m c độ phạm tội của bị cáo Đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, gi nguyên quy t định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Minh T.

ăn c vào các tài liệu ch ng c được thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào k t quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý ki n của kiểm sát viên, bị cáo

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh T th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm nêu; bị cáo c ng th a nhận bị xét xử về tội Trốn khỏi nơi giam là không oan Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn ph hợp với nhau, ph hợp lời khai của bị cáo Hoàng ao C và các ch ng c trong h sơ vụ án o đ Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Minh T về tội Trốn khỏi nơi giam là c căn c , đúng pháp luật và không oan

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh T, Hội đ ng xét xử phúc thẩm thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm tr ng, bị cáo đang bị giam gi về hành vi vi phạm pháp luật, do bị bệnh, được Trại giam cho đi Bệnh viện ch a bệnh thì bị cáo đ bàn bạc, thống nhất c ng với bị cáo C tìm cách phá kh a c m để trốn ra ngoài Thể hiện bị cáo không c ý th c rèn luyện, cải tạo thành người lương thiện mà chống lại chính sách cải tạo nhân đạo của Nhà nước rất quy t liệt Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 386 Bộ luật hình sự 2015 bị cáo phạm tội c t ch c, c khung hình phạt t t 03 năm đ n 10 năm Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo 04 năm t là không nặng Hình phạt đ là ph hợp với tính chất, m c độ phạm tội của bị cáo và cần thi t để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện Bởi vậy, không c căn c để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T.

ác quy t định khác của án sơ thẩm không c kháng cáo kháng nghị nên không xét.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật

T nhận định trên; căn c Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T i nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2018/HSST ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 04 bốn năm t về tội Trốn khỏi nơi giam T ng hợp với hình phạt 30 tháng tù tại Bản án số 102/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 sáu năm 06 sáu tháng t ; thời hạn t tính t 18/01/2018

- ác quy t định khác của Bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật sau khi h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị

- Án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200 000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Đ ký

Đ ký Nguyễn Văn C Trần Văn Tuân

Đặng Bảo Vĩnh ---------------------------------------------------------------------------------------------------

Cỡ chữ