vanban.org

Bản án 86 — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Hà Thị S. Áp dụng kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự, giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm s 25/2021/DS-ST ngày 30/8/2021 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Áp dụng kho n 9 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm c kho n 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của ộ luật t tụng dân sự năm 2015; kho n 3 Điều 155 ộ luật dân sự 2015, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 26, điểm a kho n 2 Điều 27 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Nguyễn Thị C - Hà Thị S"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Hà Thị S. Áp dụng kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự, giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm s 25/2021/DS-ST ngày 30/8/2021 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 203 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 86/2021/DS - PT
Ngày: 24/11/2021
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: à Đỗ Anh Dân

Các Thẩm phán: à Nguyễn Minh Lý và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: à Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm s t viên.

Trong các ngày 22 và ngày 24 th ng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 58/2021/TLPT-DS ngày 07/10/2021 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất". Do b n n dân sự sơ thẩm s 25/2021/DS-ST ngày 30/8/2021 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên bị kh ng c o.

Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm s 60/2021/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2021 giữa c c đương sự:

Nguyên đơn: à Nguyễn Thị C, sinh năm 1972 (có mặt)

Bị đơn: à Hà Thị S, sinh năm 1961 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm ĐD, xã SC, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên

Người làm chứng:

1. Ông Lục Văn D;

2. Ông Nguyễn Văn N;

3. Ông Hà Văn S;

4. à Tô Thị M;

Cùng địa chỉ: Xóm ĐD, xã SC, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên

5. à Nguyễn Thị H;

Địa chỉ: Tổ 3, phường TL, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên.

(Những người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, khởi kiện đ i với bà Hà Thị S về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà đ i với thửa đất s 248, tờ b n đồ s 23, xã SC, huyện Nay bà Hà Thị S đang tranh chấp với gia đình.

Nguồn g c thửa đất, bà C trình bày: Cụ Llà b bà mua của cụ Hà Thị T (mẹ đẻ của bà S) từ kho ng năm 1985 - 1986. Việc mua b n có giấy mua b n viết tay nhưng không ghi ngày th ng năm, có điểm chỉ của cụ T, có x c nhận của Đội trưởng Hợp t c xã Thanh Sơn thời điểm đó là ông Trần Minh T1 (nay ông T1 đã chết). Sau khi mua, gia đình bà đã sử dụng toàn bộ những diện tích mua b n của cụ T. Đến kho ng năm 1989, cụ S là cậu ruột của bà nghỉ hưu về địa phương thì mới mua lại đất của cụ L. Thực chất ban đầu là cụ S (cậu ruột của bà) đang đi làm công nhân, chuẩn bị nghỉ hưu nên có ý định về làm ăn, sinh s ng ở địa phương nên có nhờ cụ L, đứng ra mua hộ, về sau, cụ S nghỉ hưu mới mua lại từ cụ L và khi đó mới viết giấy mua b n, vì vậy mà giấy ghi nội dung cụ T bán cho cụ S, còn việc ông T1 x c nhận và đề nghị Ủy ban nhân dân xã gi i quyết cho cụ L là vì cụ L là người hỏi mua ban đầu. Trong s c c thửa đất mua của cụ T như trong giấy mua b n đã ghi và về sau b n lại cho ông S, b mẹ bà giữ lại thửa “bãi c nh bẩy góc” chính là thửa 248 hiện nay để sử dụng và đổi cho ông S m nh kh c cho tiện canh t c. Sở dĩ thửa đất này có tên “bãi c nh bẩy góc” là vì thửa này nằm ngay s t thửa “c nh bẩy góc” nên mọi người quen gọi tên như vậy. Thực tế, gia đình bà sử dụng thửa đất này từ năm 1986 cho đến nay, còn gia đình ông S sử dụng những m nh còn lại trong giấy mua b n. Những năm đầu, gia đình bà trồng đỗ, trồng lạc, đến năm 1990 thì chuyển sang trồng chè. Năm 1992, bà lập gia đình ra ở riêng nên b mẹ đã cho bà thửa đất này để sử dụng. à đã trồng chè từ năm 1992 cho đến nay. an đầu, m nh đất này có diện tích nhỏ (chỉ kho ng 400 – 500m2) nhưng trong qu trình sử dụng, gia đình bà đã khai phá, mở rộng thêm thành diện tích như hiện nay.

Khi bà Hà Thị S là con gái cụ T đi tù về đã tranh chấp m nh đất này với gia đình bà, bà S cho rằng cụ T cho gia đình bà mượn đất nên bà S đòi lại. Khi xóm gi i quyết tranh chấp kho ng năm 2005 - 2006, bà S có được xem giấy mua b n này và có ông Trần Minh T1 khi đó còn s ng đến x c nhận là người đã trực tiếp viết và ký x c nhận ở cu i giấy mua b n nên bà S mới chấp nhận và không có ý kiến thắc mắc gì nữa. Mãi đến năm 2017, khi Nhà nước làm thủ tục bồi thường gi i phóng mặt bằng, bà S mới có đơn gửi ra xã yêu cầu gi i quyết tranh chấp với bà. Quan điểm của bà là thửa đất này mặc dù có nguồn g c của cụ T (mẹ bà S) nhưng cụ T đã b n cho gia đình bà, gia đình bà đã sử dụng ổn định từ năm 1986 đến nay, có đầy đủ c c hộ gia đình xung quanh và trưởng xóm làm chứng. à đề nghị Tòa n gi i quyết công nhận thửa đất s 248, tờ b n đồ s 23 xã SC, diện tích thực tế được Tòa n x c định là 1049,8m2, loại đất trồng cây lâu năm thuộc quyền sử dụng của bà, không thuộc quyền sử dụng của bà S, đồng thời, yêu cầu Tòa n công nhận toàn bộ tài s n là cây c i trên đất (gồm chè, nhãn, bưởi) thuộc quyền sở hữu của bà. Tại phiên tòa, bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà xác định sở dĩ trước đây gia đình bà không kê khai xin cấp quyền sử dụng đất là vì thửa đất này ở liền cạnh bãi nghĩa địa của xóm, khi ông L là b của bà còn s ng, ông có nói với bà là c c cụ cao tuổi trong xóm có họp và th ng nhất mở rộng nghĩa trang nên gia đình bà x c định thửa đất này trước sau cũng sử dụng làm nghĩa trang nên mặc dù gia đình bà vẫn canh t c hàng năm nhưng không kê khai làm bìa đỏ nữa. Năm 2001, cụ T chết, gia đình cụ có sang nhà bà hỏi xin đặt mộ cụ lên thửa đất này vì lý do gia đình cụ đi xem thầy, người ta b o ph i đặt ở vị trí đó. Do nể m i quan hệ gần gũi, thân thiết với cụ T khi cụ còn s ng và nghĩ rằng thửa đất này sẽ làm nghĩa trang nên gia đình bà mới đồng ý cho đặt mộ cụ lên, sau vài năm thì gia đình cụ đã c i t ng và chuyển mộ đi nơi khác.

Tại b n tự khai của bà Hà Thị S ngày 21/6/2021 (bút lục 34), bà S khai: Năm 1982, bà lấy chồng và được b mẹ cho toàn bộ khu đất trên đồi, trong đó có thửa đất cu i đồi, nay là thửa 248, tờ b n đồ s 23, diện tích 1000m2 tại xóm ĐD, xã SC, TP. Th i Nguyên. Sau khi vợ chồng bà ly hôn, do có người đ t nhà nên bà sợ không d m ở, đã dọn về ở nhờ nhà ông Trần Văn A ở cùng xóm. Do con còn nhỏ nên bà không làm hết đất, bà đã cho bà Hà Thị N1 là mẹ của bà S tăng gia nhờ, không thu s n phẩm. Năm 1998, bà đi tù đến năm 2005 trở về. à đã đến gặp bà N1 để đòi lại thửa đất trên nhưng bà N1 không tr , bà đã nhiều lần làm đơn lên Ủy ban nhân dân xã yêu cầu bà N1 tr đất nhưng không có kết qu . Năm 2012, bà đã làm đơn kiện bà C vì bà C là người đang canh t c. à C có nộp một tờ giấy mua b n đất có c c thửa ghi trên giấy, bà công nhận đều là c c thửa đất của nhà bà nhưng thửa 248 thì bà không công nhận vì c c thửa kh c đều ghi rõ s mét cụ thể nhưng thửa 248 thì không ghi diện tích. Việc bà C khai khi mua, thửa đất 248 nhỏ nên nhà bà C khai hoang thêm là vô lý. à không nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà C vì lý do nếu có việc mua b n thì đã không đặt mộ mẹ bà trên thửa đất đó.

Tại đơn ph n t cùng ngày 21/6/2021, bà S yêu cầu Tòa n công nhận thửa đất 248, tờ b n đồ s 23 thuộc quyền sử dụng của bà.

Sau khi hòa gi i không thành, Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên đã đưa vụ n ra xét xử.

Tại b n n b n n dân sự sơ thẩm s 25/2021/DS - ST ngày 30/8/2021 đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C đ i với bị đơn bà Hà Thị S.

Công nhận thửa đất s 248, tờ b n đồ s 23, diện tích 1049,8m2 thuộc xóm ĐD, xã SC, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên, loại đất trồng cây lâu năm thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị C (có trích lục sơ đồ kèm theo).

Công nhận sự thỏa thuận của c c đương sự về việc x c định tài s n trên đất gồm diện tích cây chè 1000m2 và 02 cây nhãn, 02 cây bưởi thuộc quyền sở hữu của bà C.

c yêu cầu ph n t của bị đơn bà Hà Thị S về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng thửa đất s 248, tờ b n đồ s 23 xã SC, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên.

Ngoài ra n sơ thẩm còn tuyên về n, lệ phí và quyền kh ng c o của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Hà Thị S kh ng c o toàn bộ b n n.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục t tụng: ị đơn bà Hà Thị S, kh ng c o trong hạn luật định, đã nộp dự phí kh ng c o là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2.] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và nội dung kh ng c o của bị đơn bà Hà Thị S, theo tài liệu trong hồ sơ vụ n và lời trình bày của c c đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Diện tích đất tranh chấp giữa bà C và bà S, theo b n đồ địa chính xã SC là thửa s 248, tờ b n đồ s 23, diện tích 995m2 thuộc xóm ĐD, xã SC, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên. Kết qu đo hiện trạng theo c c m c giới ổn định trên thực tế cho thấy, diện tích được x c định là 1049,8m2. Ủy ban nhân dân xã SC x c định thửa đất này mặc dù trong sổ th ng kê diện tích, loại đất, chủ sử dụng đất năm 2000 ghi là đất Hợp t c xã nhưng thực tế đây không ph i là thửa đất công mà là do tình trạng c c hộ dân có thể nhận thiếu đất hoặc không nhận đất vì lý do kh c nên xã ghi vào sổ như vậy. Trên thửa đất này hiện có tài s n là cây chè bao phủ diện tích thửa đất và có xen lẫn một s cây nhãn và cây bưởi, c c đương sự đều x c định cây trên đất là do nguyên đơn trồng. Ngoài ra, trên đất còn có một bức tường xây bao quanh ngôi mộ của cụ Hà Thị T, hiện ngôi mộ đã được di dời đi nơi kh c từ nhiều năm nay. C c đương sự đều x c định bức tường này không còn gi trị sử dụng nữa, bà S chỉ mu n giữ lại hiện trạng bức tường này để chứng minh quyền sử dụng đất của mình.

Về nguồn g c, phía nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận thửa đất có nguồn g c do gia đình cụ Hà Thị T là mẹ đẻ của bị đơn khai ph (b đẻ của bị đơn chết từ năm 1971). Nguyên đơn bà C x c định cụ T đã b n thửa đất này cho ông L (là b của nguyên đơn), bị đơn bà S x c định cụ T chỉ cho ông Lmượn, không có việc b n đất. Về thời điểm chuyển giao người sử dụng, nguyên đơn x c định, gia đình mua đất kho ng năm 1985, 1986, bị đơn x c định cụ T cho gia đình ông L mượn năm 1986 vì năm đó là m c thời gian ghi dấu sự kiện nhà bà bị ch y nên bà nhớ rõ. Xét lời khai của nguyên đơn và bị đơn về thời điểm gia đình ông Lsử dụng đất hoàn toàn phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người làm chứng là ông Nhân và ông S nên có căn cứ x c định gia đình ông L sử dụng thửa đất tranh chấp từ năm 1986 cho đến nay.

Nguyên đơn xuất trình giấy mua b n có nội dung cụ T b n đất cho ông Hà Văn S, trong đó có thửa tranh chấp là “miếng bãi c nh bẩy góc”, có dấu điểm chỉ của cụ T, có x c nhận của ông Trần Minh T1 là Đội trưởng Hợp t c xã. Theo nguyên đơn trình bày, lý do giấy mua b n ghi tên người mua là ông S nhưng phần x c nhận của ông T1 lại ghi tên ông L là vì ông Lđứng ra mua của cụ T hộ ông S (ông S là em cậu) nên khi viết giấy đã ghi tên ông S, về sau ông L đổi cho ông S thửa đất này, nghĩa là ông S lấy thửa kh c để sử dụng, còn ông L lấy thửa này để sử dụng, còn c c thửa kh c thể hiện trong giấy mua b n vẫn do ông S sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi thì ông S là người nhận tiền bồi thường gi i phóng mặt bằng.

Phía bị đơn bà S x c định cụ T chỉ cho gia đình ông L mượn chứ không có việc mua b n. Bà S cũng thừa nhận gia đình bà C sử dụng đất từ năm 1986 cho đến nay. Tuy nhiên, bà S không đưa ra được căn cứ gì chứng minh cho lời khai của mình về việc cụ T cho ông L mượn đất. Về c c thửa đất không có tranh chấp được ghi trong giấy mua b n, tại b n tự khai thì bà S x c định những thửa đất này đều là của gia đình bà nhưng tại phiên tòa, bà S cho rằng bà không rõ c c thửa ghi trong giấy có ph i của gia đình bà hay không, bà chỉ quan tâm đến thửa tranh chấp vì bà được mẹ chia cho thửa này. Về m i quan hệ với những người làm chứng trong vụ án, tại phiên tòa, bà S x c định giữa bà và những người này không có mâu thuẫn gì.

Ông Hà Văn S x c định gia đình ông đã sử dụng c c thửa còn lại trong giấy mua b n và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó được nhận tiền bồi thường gi i phóng mặt bằng, chỉ còn riêng thửa đất tranh chấp là ông không sử dụng vì đó là đất của gia đình ông L đã đổi cho ông.

Những người làm chứng kh c gồm ông D, ông N, ông T2, bà M, bà H đều x c định gia đình ông L, sau là bà C là người thực tế sử dụng đất trong mấy chục năm qua, ngoài ra không có ai khác.

Ông Hà Văn H1 là anh ruột của bà Hà Thị S, là con của cụ Hà Thị T hiện đang sinh s ng ở gần thửa đất này x c định: Ông và c c anh chị em trong gia đình khi lớn lên đều đi tho t ly. Năm 1988 ông về nhà thì thấy cụ T là mẹ có nói chuyện là đất đai nhà mình nhiều, không có người làm nên cho gia đình ông L mượn. Ông không biết thực tế mẹ ông cho ông L mượn hay b n vì ông không quan tâm.

Ông Hà Xuân B và bà Hà Thị H2 là con của cụ T đều x c định nguồn g c thửa đất là của gia đình mình. Khi c c con đi bộ đội, cụ T ở nhà cho ông L mượn chứ không bán. Tuy nhiên, ông B, bà H2 cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc cụ T cho ông Lmượn đất.

Như vậy, đ i chiếu lời khai của c c bên đương sự với lời khai của những người làm chứng và với c c tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp cũng như do Tòa n thu thập được, căn cứ vào diễn biến qu trình sử dụng đất thực tế từ năm 1986 đến nay, có cơ sở x c định, mặc dù thửa đất có nguồn g c ban đầu của cụ Hà Thị T nhưng từ năm 1986, cụ T đã b n cho ông L, ban đầu ông L mua hộ ông Hà Văn S nhưng sau đó ông L đã đổi cho ông S thửa đất kh c để ông L lấy lại thửa đất này sử dụng. Trong su t qu trình gia đình ông L sử dụng từ năm 1986 cho đến khi bà S có đơn, khi cụ T còn s ng và sau khi cụ T chết, gia đình cụ không ai có thắc mắc, tranh chấp gì. Năm 2005 - 2006, khi xóm hòa gi i tranh chấp giữa bà S và bà C, ông Trần Minh T1 còn s ng có được mời lên làm chứng việc ký x c nhận vào giấy mua b n, bà S được nghe ông T1 x c nhận sự việc nên sau đó không có khiếu kiện gì cho đến năm 2017, khi Nhà nước tiến hành triển khai thủ tục bồi thường, gi i phóng mặt bằng, bà S mới tiếp tục có đơn yêu cầu gi i quyết tranh chấp.

Việc bà S có ý kiến tại phiên tòa về việc xem xét c c dấu hiệu của giấy mua b n đất do nguyên đơn xuất trình, Hội đồng xét xử thấy, mặc dù giấy không ghi ngày th ng năm nhưng thời điểm chuyển giao chủ sử dụng đất đã được c c bên đương sự và những người làm chứng x c định hoàn toàn phù hợp với nhau là năm 1986; về chữ viết và chữ ký của ông Trần Minh T1 đã được thể hiện qua x c nhận của ông Lục Văn D với tư c ch là Trưởng xóm; về việc tên thửa đất “bãi c nh bẩy góc” mà bà S cho rằng không ph i là thửa đất tranh chấp, nguyên đơn x c định thửa này ở s t cạnh thửa “c nh bẩy góc” nên được gọi như vậy, phù hợp với lời khai của ông Lục Văn D là Trưởng xóm đã x c định việc đặt tên c c thửa đất trước đây đều do c c cụ tự quy ước và đặt theo khu vực, những thửa ở cùng khu vực thửa tranh chấp này đều có tên chung là “c nh bẩy góc”; về việc không ghi diện tích của thửa đất này nhưng c c thửa kh c trong giấy mua b n lại có thể hiện diện tích, nội dung này không có ý nghĩa quan trọng vì thực tế những người làm chứng đều x c định thửa đất tranh chấp được gọi tên là “bãi c nh bẩy góc” chứ không ph i thửa nào khác; về việc ghi tên người mua Hà Văn S có dấu hiệu không liền mạch, tài liệu g c cho thấy, chữ viết mang tên “Hà Văn S” được viết liền nhau, không có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa, hơn nữa, không có sự tranh chấp giữa ông S và gia đình ông L; về việc dấu điểm chỉ của cụ T, Hội đồng xét xử đã gi i thích cho bà S quyền yêu cầu gi m định nhưng bà S không yêu cầu gi m định.

Từ sự phân tích trên, tòa sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C, b c ph n t của bị đơn bà S là có căn cứ. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Hà Thị S.

Về chi phí t tụng: ị đơn ph i chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định gi tài s n là 9.500.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định gi tài s n, bị đơn ph i thanh toán cho nguyên đơn s tiền này.

Về n phí: ị đơn ph i chịu n phí theo quy định của ph p luật.

[3.] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên ph t biểu quan điểm: Thẩm ph n Chủ tọa và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng c c quy định của ộ luật t tụng dân sự. Về đường l i gi i quyết vụ n: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kh ng c o của bị đơn bà Hà Thị S, giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Hà Thị S. Áp dụng kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự, giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm s 25/2021/DS-ST ngày 30/8/2021 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Áp dụng kho n 9 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm c kho n 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của ộ luật t tụng dân sự năm 2015; kho n 3 Điều 155 ộ luật dân sự 2015, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 26, điểm a kho n 2 Điều 27 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C đ i với bị đơn bà Hà Thị S.

Công nhận thửa đất s 248, tờ b n đồ s 23, diện tích 1049,8m2 thuộc xóm ĐD, xã SC, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên, loại đất trồng cây lâu năm thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị C (có trích lục sơ đồ kèm theo).

Công nhận sự thỏa thuận của c c đương sự về việc x c định tài s n trên đất gồm diện tích cây chè 1000m2 và 02 cây nhãn, 02 cây bưởi thuộc quyền sở hữu của bà C.

c yêu cầu ph n t của bị đơn bà Hà Thị S về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng thửa đất s 248, tờ b n đồ s 23 xã SC, thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên.

2. Về chi phí t tụng: à Hà Thị S chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định gi tài s n là 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng). S tiền này bà Nguyễn Thị C đã nộp tạm ứng. à S có tr ch nhiệm tr cho bà C s tiền 9.500.000đ này.

3. Án phí:

- Án phí sơ thẩm: à Hà Thị S ph i chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) n phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, được trừ vào s tiền 1.000.000đ tạm ứng n phí đã nộp, được hoàn lại 700.000đ (bẩy trăm nghìn đồng) theo biên lai s 0004927 ngày 22/6/2021 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên.

- Hoàn tr cho bà Nguyễn Thị C s tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng n phí đã nộp theo biên lai s 0004823 ngày 12/5/2021 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên.

- Án phí phúc thẩm: à Hà Thị S ph i chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) n phí phúc thẩm sung quỹ Nhà nước, được trừ vào s tiền tạm ứng n phí đã nộp, theo biên lai s 0005625 ngày 20/9/2021 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Th i Nguyên.

Kể từ ngày b n n có hiệu lực ph p luật, người được thi hành n có đơn yêu cầu thi hành n, nếu người ph i thi hành chậm thi hành thì ph i chịu lãi suất đ i với s tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành n. Mức lãi suất do c c đương sự thỏa thuận nhưng không được vượt qu 20%/năm của kho n tiền chậm thi hành. Trường hợp không thỏa thuận được thì lãi suất được x c định bằng 50% của mức lãi suất quy định tại kho n 1 Điều 468 ộ luật dân sự.

Trường hợp n n được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành n dân sự thì người được thi hành n, người ph i thi hành n có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành n dân sự.

B n án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.

Cỡ chữ