vanban.org

Bản án 86/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Lò Văn S.

Về con chung: Giao cháu Lò Khánh H, sinh ngày 14/01/2025 cho chị Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Lò Thị T1, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Lò Nhật K, sinh ngày 25/10/2013 cho a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lo Thi T- Lo Van S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Lò Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2026/HNGĐ–ST
Ngày: 27–8–2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện, bà Lường Thị Khuyển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2026/TLST-HNGĐ ngày 10/4/2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/6/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2026/QĐST-HNGĐ ngày 11/8/2026 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị T; sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Bản C (trước là bản Chéo), xã N, tỉnh Sơn La. Vắng mặt. 2. Bị đơn: Anh Lò Văn S; sinh năm: 1991. Nơi cư trú: Bản C (trước là bản Chéo), xã N, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lò Thị T trình bày:

Chị T và anh Lò Văn S đăng ký kết hôn với nhau từ năm 2025. Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện S, tỉnh Sơn La (Nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Sơn La). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, quan điểm trong cuộc sống vợ chồng không đồng thuận, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên ngăn nhưng cuộc sống vợ chồng không được cải thiện, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân nhau được hơn 2 năm nay không ai quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị giải quyết ly hôn với anh Lò Văn S.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lò Thị T1, sinh ngày 28/10/2010; cháu Lò Nhật K, sinh ngày 25/10/2013 và cháu Lò Khánh H, sinh ngày 14/01/2025. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lò Khánh H đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và yêu cầu anh Lò Văn S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lò Thị T1 và cháu Lò Nhật K.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu anh Lò Văn S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Lò Thị T cam đoan không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lò Văn S đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên tòa nhưng anh S vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn.

Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con tại nơi cư trú của các đương sự và ý kiến của con chung như sau:

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 21/5/2026 xác định: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn S có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại bản Chéo, xã N, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành. Chị T và anh S đã sống ly thân với nhau được mấy năm nay. Quá trình chung sống chị T và anh S có 03 con chung là cháu Lò Thị T1, sinh năm 2010; cháu Lò Nhật K, sinh năm 2013 và cháu Lò Khánh H, sinh năm 2025. Kể từ khi ly thân cháu Lường Khánh H1 ở cùng chị Lò Thị T, còn hai cháu Lò Thị T1 và cháu Lò Nhật K ở cùng anh Lò Văn S. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Tại Biên bản xác minh ngày 21/5/2026 với mẹ đẻ của anh Lò Văn S là bà Tòng Thị P, sinh năm 1960 xác định: Anh S và chị T có 03 người con là cháu Lò Thị T1, sinh năm 2010; cháu Lò Nhật K, sinh năm 2013 và cháu Lò Khánh H, sinh năm 2025. Kể từ khi anh S và chị T sống ly thân, 02 cháu Lò Thị T1 và Lò Nhật K ở cùng anh S, được anh S trông nom, chăm sóc, giáo dục và cho ăn học đầy đủ. Qua trao đổi với mẹ đẻ của anh S thì được biết anh S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và cháu K đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Lò Khánh H kể từ khi ly thân ở cùng chị T.

Tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 19/5/2026: Cháu Lò Thị T1 và cháu Lò Nhật K đều có nguyện vọng ở với bố là anh Lò Văn S nếu bố mẹ các cháu ly hôn.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, bị đơn đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt để tham gia tố tụng. Do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn kiên quyết ly hôn với lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn đã rất trầm trọng.

Chị Lò Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị Thu giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Lò Văn S.

Về con chung: Giao cháu Lò Khánh H, sinh ngày 14/01/2025 cho chị Lò Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành.

Giao cháu Lò Thị T1, sinh ngày 28/10/2010; cháu Lò Nhật K, sinh ngày 25/10/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Về án phí: Chị Lò Thị T được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Chị Lò Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung với anh Lò Văn S có địa chỉ bản C, xã N, tỉnh Sơn La, vì vậy xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3- Sơn La.

Về tố tụng: Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các yêu cầu cho việc khởi kiện, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lò Văn S đã được Toà án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về việc không hòa giải: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được, nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện S, tỉnh Sơn La (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Sơn La) vào ngày 10/02/2025, việc kết hôn là tự nguyện không bị ai ép buộc, khi kết hôn hai bên đủ kiều kiện kết hôn theo quy định. Căn cứ Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn giữa chị Lò Thị T và anh Lò Văn S xuất phát từ việc hai vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai bên gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được tình cảm, anh S và chị T đã sống ly thân với nhau được nhiều năm, hiện tại không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho bị đơn anh Lò Văn S để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Lò Văn S không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc xin ly hôn với chị Lò Thị T thể hiện ý chí thiếu trách nhiệm, không còn quan tâm đến cuộc sống gia đình và không có hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh tại địa phương, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng giữa chị T và anh S không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, không thể hoà hợp được, đã sống ly thân mấy năm nay không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc. Căn cứ vào Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho anh chị được ly hôn theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lò Thị T1, sinh ngày 28/10/2010; cháu Lò Nhật K, sinh ngày 25/10/2013 và cháu Lò Khánh H, sinh ngày 14/01/2025. Hiện cháu Lò Thị T1 và cháu Lò Nhật K ở với anh Lò Văn S và cháu Lò Khánh H đang ở với chị Lò Thị T. Chị Lò Thị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Khánh H và giao 02 cháu Lò Thị T1, Lò Nhật K cho anh Lò Văn S trực tiệp nuôi dưỡng, giáo dục.

Kết quả xác minh của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La với chính quyền địa phương và mẹ đẻ của anh Lò Văn S thì hiện nay cháu T1 và cháu K đang trực tiếp sống cùng bố, cháu H đang trực tiếp sống cùng mẹ. Tòa án đã ghi ý kiến nguyện vọng của cháu Lò Thị T1 và cháu Lò Nhật K, các cháu đều có nguyện vọng ở cùng bố Lò Văn S, nguyện vọng của cháu là tự nguyện không bị ai ép buộc.

Hội đồng xét xử xét thấy kể từ khi ly thân tới nay các con chung của anh S và chị T đã được hai bên thoả thuận thống nhất, do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cũng như chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, chí tuệ và tránh sự xáo trộn môi trường, hoàn cảnh sống của con, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị T. Giao cháu Lò Khánh H cho chị Lò Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Lò Thị T1 và cháu Lò Nhật K cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị T xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Lò Văn S không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Xét thấy chị Lò Thị T là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị T có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, cần miễn án phí cho chị Lò Thị T. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Lò Văn S.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Khánh H, sinh ngày 14/01/2025 cho chị Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Giao cháu Lò Thị T1, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Lò Nhật K, sinh ngày 25/10/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau do không có người yêu cầu.

Sau khi ly hôn chị Lò Thị T và anh Lò Văn S có quyền thăm nom con, không ai được cản trở thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị T.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ