vanban.org

Bản án 86/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 15/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. TAND tỉnh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung H - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 117/2023/NQ-HĐND Quy định một số chính sách hỗ…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HS - ST
Ngày 15/12/ 2025.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Kim Phượng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Khoản

Ông Lý Seo Vần

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 15/12/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2025/TLST- HS ngày 03/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

LÊ TRUNG H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 31/5/1973. Tại phường C, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn N, xã P, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân M (đã chết) và bà Trần Thị K (đã chết); Bị cáo có vợ Nguyễn Thị T- sinh năm 1974, bị cáo có 01 con sinh năm 1997; Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 30/2011/HSST ngày 05/8/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy; Tiền sự: 01 tiền sự. Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 117/2023/QĐ-TA ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đưa Lê Trung H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Lào Cai với thời hạn 15 tháng. Ngày 18/7/2024, đã chấp hành xong. Tại Quyết định số 125/QĐ-UBND ngày 27/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Lê Trung H kể từ ngày 27/8/2024 đến ngày 27/8/2026.

Về nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 232/QĐ - UBND ngày 10/03/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đưa Lê Trung H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Lào Cai với thời hạn 12 tháng. Ngày 28/03/2011, đã chấp hành xong quyết định; Tại Bản án hình sự số 67/HSST ngày 31/7/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử 03(Ba) năm tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”; Tại Bản án số 63/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án 147/2008/HSST ngày 25/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1,Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ ngày 20/8/2025 Công an xã P, tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với Lê Trung H (sinh ngày 31/5/1973, trú tại thôn N, xã P, tỉnh Lào Cai) là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lào Cai (trước đây là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Lào Cai) từ ngày 27/8/2024 đến ngày 27/8/2026. Kết quả xét nghiệm nhanh, Lê Trung H dương tính với chất ma túy Morphine, Heroine. Lê Trung H khai nhận đang thuộc đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú.

Về nguồn gốc chất ma túy sử dụng, Lê Trung H khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 18/08/2025 mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Cầu K, thuộc phường L, tỉnh Lào Cai 01 gói ma túy Heroine với số tiền 100.000 đồng. Lê Trung H một mình sử dụng hết số ma túy mua được bằng hình thức hít tại nhà thôn N, xã P, tỉnh Lào Cai thì bị bắt.

Tại kết luận giám định số: 1480/KL-KTHS ngày 25/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Lê Trung H gửi giám định cho chất ma túy loại Morphine (Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người).

Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai truy tố bị cáo Lê Trung H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Trung H về tội: “ Sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung H từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng ®Õn 02 (Hai) n¨m 09 (Chín) tháng tù.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Trung H nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trung H khai nhận: Bị cáo Lê Trung H hiện đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 125/QĐ-UBND ngày 27/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lào Cai) về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Lê Trung H kể từ ngày 27/8/2024 đến ngày 27/8/2026. Ngày 18/08/2025, bị cáo Lê Trung H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở thuộc thôn N, xã P, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 20/8/2025, bị cáo bị Công an xã P, tỉnh Lào Cai kiểm tra ma túy theo định kỳ và bị bắt.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà Hn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Morphine (Heroine) của bị cáo Lê Trung H đã cấu thành tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a - Bộ luật hình sự. ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n khu vực 6 - Lào Cai truy tè bị cáo lµ hoµn toµn ®óng người, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt.

Hµnh vi ph¹m téi cña bị c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý c¸c chÊt ma tuý cña Nhà nước ta, g©y mÊt trËt tù trÞ an t¹i ®Þa phương. V× vËy cÇn ph¶i xö ph¹t bị c¸o mét mức ¸n thËt tương xứng víi tÝnh chÊt møc ®é hµnh vi ph¹m téi cña bị c¸o ®· g©y ra míi cã t¸c dông c¶i t¹o bÞ c¸o.

Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Lê Trung H có 01 tiền án: Tại Bản án số 30/2011/HSST ngày 05/8/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước, buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tháng 6/2019, bị cáo H chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm, nhưng chưa chấp hành xong tiền phạt bổ sung công quỹ Nhà nước chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy t¹i c¬ quan ®iÒu tra vµ tại phiên toà bị c¸o thµnh khÈn khai nhËn hµnh vi ph¹m téi cña m×nh. V× vËy cÇn ¸p dông ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51- Bộ luật hình sự ®Ó giảm nhÑ mét phÇn h×nh ph¹t cho bị cáo lµ phï hîp.

Về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma tuý, tại thời điểm bị bắt đã đưa đi xét nghiệm cho thấy trong cơ thể của bị cáo có chứa chất ma tuý và tại Bản án hình sự số 67/HSST ngày 31/7/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử 03(Ba) năm tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”; Tại Bản án số 63/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án 147/2008/HSST ngày 25/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" đã được xoá tiền án. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 232/QĐ - UBND ngày 10/03/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đưa Lê Trung H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Lào Cai với thời hạn 12 tháng. Ngày 28/03/2011, đã chấp hành xong quyết định đã được xoá tiền sự. Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 117/2023/QĐ-TA ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đưa Lê Trung H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Lào Cai với thời hạn 15 tháng. Ngày 18/7/2024, đã chấp hành xong. Tại Quyết định số 125/QĐ-UBND ngày 27/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Lê Trung H kể từ ngày 27/8/2024 đến ngày 27/8/2026 chưa được xoá tiền sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. [6] Về vật chứng: Vật chứng mẫu giám định thu giữ của bị cáo Lê Trung H sử dụng hết trong quá trình giám định. Do vậy không xem xét [7] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới mà bị cáo Lê Trung H khai đã bán ma túy Heroine cho bị cáo vào ngày 18/8/2025. Quá trình điều tra, xác định bị cáo Lê Trung H không biết tên, tuổi địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo Lê Trung H không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Lê Trung H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 21/08/2025.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Buộc bị cáo Lê Trung H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ