- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cam Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Cam Văn Đ 01 năm (một năm) 03 tháng (ba tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 25/12/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày: 21-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thân Văn Nhàn
Bà Nguyễn Thị Lại
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Vân Ngọc – Thư ký TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Đại diện VKSND thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đặng Đức H – Kiểm sát viên.
Ngày 21/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2025/TLST - HS ngày 11/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2025/QĐXXST–HS ngày 09/5/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cam Văn Đ, sinh năm 1997; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cam Văn T và bà Đường Thị L; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo: bà Thân Thị Thúy V – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh La Văn T1 – sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.
3. Anh Quách Văn L1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng: Anh Hà Văn T2 – sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quang L2 – sinh năm 1974 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 25/12/2024, tại đoạn đường giao thông thuộc địa phận tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện bắt quả tang Cam Văn Đ, sinh năm 1997, trú tại xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Vật chứng thu giữ của Được: thu tại lòng bàn tay trái Cam Văn Đ: 01 túi ni lon màu trắng, bên trong đựng 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong gói giấy có 04 gói, trong đó có: 02 gói giấy bạc, 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT”; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 98F8-4293.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Được bằng que test, kết quả dương tính với chất ma túy Heroine.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Cam Văn Đ trước khi bị bắt tại nhà trọ của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962, ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, đồng thời tiến hành kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Được; kết quả không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định xác định chất ma túy đối với số vật chứng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” thu giữ khi bắt quả tang Được.
Tại bản Kết luận giám định số 04/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K-Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01 (một) phong bì ký hiệu "QT" đã được niêm phong gửi giám định: Trong một túi ni lon màu trắng, một đầu được hàn kín, một đầu để hở, một mặt túi có nhiều chữ màu xanh, bên trong túi đựng 01 gói giấy vệ sinh màu trắng: Chất cục bột màu trắng được đựng trong 04 (bốn) gói giấy (trong đó có 02 gói giấy bạc; 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng; 01 gói giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng) đều là chất ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 0,201 gam”.
Quá trình điều tra Cam Văn Đ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khai nhận: Bản thân Đ là người sử dụng ma túy Heroine. Khoảng đầu tháng 12/2024, Đ ở nhờ tại phòng để đồ nhà trọ của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962, ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để đi làm thuê. Khoảng 19 giờ ngày 24/12/2024, Được một mình đi sang phòng trọ của của người đàn ông chỉ biết tên H1, quê ở tỉnh Lạng Sơn, đang thuê phòng trọ cùng nhà trọ với Đ tại nhà bà Nguyễn Thị M mua ma túy Heroine để tự sử dụng. Được đứng ngoài cửa phòng trọ, gọi bảo H1 bán cho 400.000 đồng tiền ma túy Heroin, đồng thời đưa tiền qua khe cửa vào trong phòng. H1 nhận tiền và đưa lại cho Được 02 gói giấy bạc bên trong đều đựng ma túy Heroin. Sau đó, Được cất giấu số ma túy mua được trên người, đi bộ một mình đến khu vực nghĩa trang Đ1 lấy một phần ma túy Heroine vừa mua được ra tự sử dụng. Số ma túy còn lại, Đ chia thành 04 gói nhỏ (gồm hai gói giấy bạc, 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng) cuốn vào gói giấy vệ sinh rồi cho vào túi ni lon màu trắng và dùng bật lửa hàn kín miệng túi lại, cất giấu vào túi quần đang mặc, mục đích để sử dụng dần. Sau đó, Đ đi về phòng trọ gặp bạn là La Văn T1, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai rồi cả hai đi ăn uống rượu cùng nhau. Ăn tối xong, Đ và T1 về phòng trọ của Được ngủ qua đêm. Khi đi ăn và ngủ cùng T1, Được vẫn cất giấu ma túy trên người và không nói cho T1 biết. Khoảng 10 giờ ngày 25/12/2024, Được mượn của Thống xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 98F8-4293 để đi tìm chỗ tự sử dụng ma túy nhưng nói dối với T1 là đi khỏi phòng trọ có việc. Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô đem theo túi ni lon đựng 04 gói ma túy Heroine cất giấu trên người trước đó, đi đến đến đoạn đường giao thông thuộc địa phận tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang tìm chỗ sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy đem theo và đồ vật khác có liên quan.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn xác định, ngày 22/12/2024, T1 mua ma túy Heroin của một người không quen biết tại khu vực cầu vượt S, thành phố B, sau đó tự sử dụng hết. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T1, kết quả dương tính với chất ma túy Heroine. Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với La Văn T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 10/4/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Cam Văn Được ra trước Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Cam Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Cam Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/12/2024.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “ QT” được niêm phong bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định.
+ Trả lại bị cáo Cam Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, bố mẹ bị cáo mất sơm, bị cáo học hết lớp 5 thì nghỉ, do vậy nhận thức pháp luật của bị cáo hạn chế, bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 01 tháng tù đến 01 năm 02 tháng tù.
Kiểm sát viên đối đáp và giữ nguyên quan điểm luận tội.
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 25/12/2024, tại đoạn đường giao thông thuộc địa phận tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện bắt quả tang Cam Văn Đ, sinh năm 1997, trú tại xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,201 gam ma túy Heroine trên người, mục đích chỉ để tự sử dụng. [4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, là một trong những tệ nạn xã hội cần bài trừ, là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người..., là nguyên nhân dẫn tới gia đình ly tán, đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án , tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Đối với đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo thì thấy với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ thì mức hình phạt do Trợ giúp viên đề nghị là không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy không có căn cứ để chấp nhận đề nghị này.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì ký hiệu “ QT” được niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định là công cụ phạm tội và vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đên là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Đối với người bán ma túy, Đ khai tên H1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại nhà trọ của bà Nguyễn Thị M, nhưng đối tượng H1 đã bỏ đi khỏi nhà trọ. Bị cáo, bà M không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người tên H1, xác minh tại Công an phường N xác định không có người tên H1 đăng ký tạm trú tại địa phương, ngoài lời khai của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác; đồng thời Được không biết thông tin của người bán ma túy cho Đ là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ đề cập xử lý người bán ma túy. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà Nguyễn Thị M, anh La Văn T1 đều không biết bị cáo Đ tàng trữ trái phép chất ma túy trên người khi ở phòng trọ và sử dụng xe mô tô cho mượn đi tìm chỗ sử dụng ma túy nên không phạm tội.
Đối với có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 24/12/2024 của bị cáo. Ngày 10/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã có Công văn số 127/VKS-HS đề nghị Công an tỉnh B làm thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với Cam Văn Đ về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo Điều 329 BLTTHS.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Cam Văn Đ 01 năm (một năm) 03 tháng (ba tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 25/12/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “ QT” được niêm phong bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định.
+ Trả lại bị cáo Cam Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Bắc Giang; - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang; - VKSND thị xã Việt Yên; - THAHS; THADS thị xã Việt Yên; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Tuyết |