- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Đại P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Đại P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày: 26-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung
Ông Huỳnh Tiến Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025, đối với:
- Bị cáo: Phạm Đại P, sinh ngày 11/9/1997; tại: tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); CCCD số: 074097007689, cấp ngày 07/4/2023 ; nơi cư trú: Số A đường P, Tổ G, khu phố H, phường P, TP .; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công K và bà Nguyễn Thúy L; vợ: Trần Ngọc T, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Bà Võ Thị Tố L1 (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Ngũ Ngọc Minh T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số H đường L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, sđt 0965.153.015, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đại P là người có Giấy phép lái xe hạng A1, số 740155015787 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp ngày 05/10/2015, có giá trị đến không thời hạn.
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03/8/2024, Phạm Đại P điều khiển xe mô tô hiệu Honda KF30 (PCX), màu bạc-đen, biển số 61B2-175.56 lưu thông trên đường N, hướng từ giao lộ đường N và đường L đến giao lộ đường N và đường Cách mạng tháng Tám. Khi lưu thông đến đoạn qua khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) do P thiếu chú ý quan sát (P khai do nhìn xuống đồng hồ của xe xem còn xăng hay không và khi ngước đầu lên thì phát hiện đã va chạm) nên đã để phía trước xe mô tô va chạm với bà Võ Thị Tố L1 đang đi bộ dưới lòng đường phía trước cùng chiều làm bà L1 bị thương bất tỉnh và được người dân xung quanh đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B. Đến ngày 13/8/2024, bà L1 chết. Sau đó, gia đình bà L1 đến Công an phường P trình báo vụ việc.
Căn cứ Biên bản dựng lại hiện trường, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (dựng lại) được lập vào ngày 22/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác định như sau:
- Hiện trường là đoạn đường N thuộc khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, TP .). Đoạn đường Nguyễn Văn T2 là đường nhựa và được phân chia thành hai chiều xe chạy bằng vạch sơn đơn liên tục giữa đường. Mỗi phần đường có chiều rộng 3,5 mét. Đoạn đường thẳng, mặt đường bằng phẳng và là đoạn đường đang lên dốc. Hai bên đường là hành lang an toàn đường bộ.
- Chọn trụ đèn chiếu sáng số B nằm trên hành lang an toàn đường bộ bên trái đường N theo hướng từ giao lộ N - Lạc Long Q đi giao lộ Nguyễn Văn T2 - C làm điểm mốc.
- Chọn mép lề phải đường Nguyễn Văn T2 theo hướng từ giao lộ N - Lạc Long Q đi giao lộ Nguyễn Văn T2 - Cách mạng tháng T3 làm mép lề chuẩn.
- Vị trí số 1: Xe mô tô biển số 61B2-175.56 nằm trên phần đường bên phải đường N (theo hướng từ giao lộ N - Lạc Long Q đi giao lộ Nguyễn Văn T2 - Cách mạng tháng T3). Xe nằm ngã sang bên phải, đầu xe quay về hướng giao lộ Nguyễn Văn T2 – Cách mạng tháng T3, đuôi xe quay về hướng giao lộ N - L. T4 trục bánh trước cách điểm mốc là 13,3 mét và cách mép lề chuẩn là 1,2 mét. T4 trục bánh sau cách mép lề chuẩn là 1,1 mét.
Căn cứ Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 14/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác định dấu vết trên xe mô tô biển số 61B2-175.56, như sau: Đèn chiếu sáng trước của xe có dấu trầy xước lớp sơn đề can bên ngoài, cao 67 cm; bửng chắn gió bên phải bị bong khớp nối; mép bửng chắn gió bên phải bị mài mòn cao su do tiếp xúc với mặt đường theo hướng từ trước về sau; ốp nhựa sau đầu xe (phần dưới tay lái) bị bong khớp nối; mép bệ để chân phía trước bên phải bị mài mòn cao su do tiếp xúc với mặt đường theo hướng từ trước về sau; mặt sau gương chiếu hậu bên phải bị mài mòn cao su do tiếp xúc với mặt đường; mép tay thắng sau (bên phải) bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường; mép tay lái bên phải bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường theo hướng từ trước về sau; gác chân sau bên phải bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường theo hướng từ trước về sau; ốp ống xả khí bị rơi mất; mép ngoài (đoạn đầu) ống xả khí bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường theo hướng từ trước về sau.
Theo Kết luận giám định số 5431/KL-KTHS(CH) ngày 04/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết mài mòn cạnh bên phải các bộ phận: Ốp nhựa bửng, bệ để chân, đầu tay lái, gác chân sau, tay nắm sau yên xe mô tô có chiều từ trước về sau phù hợp do va chạm với mặt đường.
- Dấu vết trên người của nạn nhân Võ Thị Tố L1 phù hợp do va chạm tai nạn giao thông tạo ra, đặc điểm của dấu vết không đủ cơ sở xác định do va chạm với chi tiết nào của xe nào tạo ra.
Theo Kết luận giám định tử thi số 3912/KLGĐTT-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của bà Võ Thị Tố L1 là do: Chấn thương sọ não.
- Vật chứng thu giữ: Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda KF30 (PCX), màu bạc-đen, biển số 61B2 – 175.56 thu giữ của Phạm Đại P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu M đã giao trả lại cho P vào ngày 22/11/2024.
- Trách nhiệm dân sự: Phạm Đại P đã bồi thường tiền viện phí và chi phí mai táng bà Võ Thị Tố L1 cho đại diện gia đình bà L1 là anh Ngũ Ngọc Minh T1, sinh năm 1987, thường trú tại số H, đường L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (con ruột của bà L1) tổng số tiền 170.000.000 đồng, anh P không yêu cầu giải quyết gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 40/CT-VKSTDM ngày 26/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Đại P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử như sau:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Đại P 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
+ Xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
+ Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận giải quyết xong.
- Bị cáo Phạm Đại P thống nhất Cáo trạng và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện bị hại đã được triệu tập nhưng không đến tham gia phiên tòa. Xét thấy, quá trình điều tra, đại diện bị hại đã có lời khai đầy đủ, đã thỏa thuận xong vấn đề bồi thường thiệt hại với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đại diện bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn các quyết định tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Do đó, Tòa xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
Xét tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố, thấy rằng: căn cứ lời khai của bị cáo Phạm Đại P không chú ý quan sát (đang điều khiển xe thì nhìn xuống đồng hồ xe xem xăng còn hay không); căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện bị tai nạn; căn cứ kết luận giám định pháp y tử thi đối với bị hại Võ Thị Tố L1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Bị cáo Phạm Đại P điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường chủ quan không chú ý quan sát, vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Tai nạn giao thông làm cho bà Võ Thị Tố L1 chết, đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng của người khác, mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hiện nay, tình hình tai nạn giao thông của cả nước nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng xảy ra ngày càng nhiều, với tính chất mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng, gây đau thương mất mát cho nhiều gia đình. Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu, hạn chế tình trạng này nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, tai nạn giao thông vẫn là mối quan tâm, lo lắng chung của toàn xã hội. Trong đó, một phần là do hành vi thiếu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo. Do đó, cần xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên của bị cáo để trừng trị, giáo dục bị cáo; đồng thời răn đe, phòng ngừa những đối tượng đang có biểu hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật giao thông.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt đã từng phục vụ trong ngành công an cấp bậc Trung sĩ; năm 2021, được Giám đốc Công an tỉnh B tặng Giấy khen do có thành tích trong đợt thi đua chào mừng kỷ niệm 91 năm ngày thành lập Đ và cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm và có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19, được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, phạm lỗi do vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, việc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng pháp luật cố gắng sửa chữa, cải tạo để trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Đại P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: bị cáo Phạm Đại P 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án (26/9/2025).
Giao bị cáo Phạm Đại P cho Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
4. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Đại P chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản ăn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - VKSND KV15- TP.HCM; - Phòng PV06-CA TP.HCM; - Thi hành án dân sự TP.HCM; - Phân trại tạm giam khu vực TDM; - Người TGTT; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |