vanban.org

Bản án 86/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng L 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM HOÀNG L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 86/2025/HS-ST

Ngày: 31/03/2025

HUYỆN CỦ CHI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Bé; Ông Thái Văn Sơn. - Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên. Trong ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo: Phạm Hoàng L, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 1243/4 đường T, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 1243/4 đường T, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Lê Thị B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 384/QĐ-TA thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 26/02/2019. Ngày 17/3/2020, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 62/QĐ-TA thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 19/6/2021. Ngày 29/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 40/QĐ-TA thời hạn 21 tháng, chấp hành xong ngày 19/10/2023; nhân thân: Ngày 20/7/2006, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” theo bản án số 958/2006/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2011; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 14/8/2024, Phạm Hoàng L đi đến khu vực gần khu D, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp người thanh niên tên H (không rõ lai lịch, là bạn quen ngoài xã hội từ năm 2021). L được H cho 01 gói ma túy bên ngoài có dán băng keo đen. L mang về nhà tại địa chỉ số A đường T, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2024, L lấy gói ma túy được H cho để trên đầu trụ chân giường trước hiên nhà và lấy bộ dụng cụ để chuẩn bị sử dụng ma túy thì Công an xã A đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang trong tay trái L đang cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy và tiến hành tạm giữ toàn bộ tang vật có liên quan đến vụ án. Tại Kết luận giám định số 9787/KL-KTHS ngày 24/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phạm Hoàng L và hình dấu công an xã A, huyện C, bên trong có: 01 gói nylon được quấn băng keo màu đen chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1338g (không phẩy một ba ba tám gam), loại Methamphetamine. Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong mang số vụ 3014/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Samsung. Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSCC ngày 13 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Phạm Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hoàng L thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan sai gì cho bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hoàng L mức án từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 3014/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Hoàng L không tranh luận, không tự bào chữa. Bị cáo Phạm Hoàng L nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Phạm Hoàng L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1338g, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Bằng hành vi trên bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Phạm Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là sai trái, phạm pháp nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm là cần thiết. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Hoàng L tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nên Hội đồng xét xử xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32, Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. [6] Về vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong mang số vụ 3014/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động hiệu Samsung là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Hội đồng xét xử xét cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. [7] Về các vấn đề khác: Bị cáo L khai có người thanh niên tên H không rõ lai lịch là người cho bị cáo ma túy sử dụng nên cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị loại trừ ra khỏi vụ án, khi nào làm rõ xử lý sau. Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét. [8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc bị cáo Phạm Hoàng L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng L 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2024. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 3014/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) buộc bị cáo Phạm Hoàng L phải chịu.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ