- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2024/HS-PT Ngày 01 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Mai Văn Quang Các Thẩm phán:
Ông Lưu Ngọc Cảnh
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên toà:
Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Đặng Kh Hưng - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội (đường Phúc Diễn, quận N, thành phố Hà Nội), Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/HSPT ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Lê Xuân Kh do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 353/2023/HSST ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Xuân Kh, sinh năm 1985 tại Phú Thọ; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu Bắc Tiến 1, xã L, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Số 62 Khúc Thừa Dụ, phường Dịch Vọng, quận G, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc H và bà Nguyễn Thị T có 01 tiền án: Ngày 18/05/2022, Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 47/2022/HS-ST. Ngày 20/06/2022, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ số 108/2022/QĐ-CA đối với Lê Xuân Kh. Qua xác minh, xác định ngày 01/08/2022, Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Phú Thọ nhân được Quyết định Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ trên đối với Lê Xuân Kh và bắt đầu lập hồ sơ giám sát, giáo dục Lê Xuân Kh từ ngày 01/08/2022.
Nhân thân:
- Ngày 31/01/2008, Tòa án nhân dân quận G, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 20/2008/HSST. (Đã xóa án tích)
- Ngày 28/07/2008, Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt với bản án số 20/2008/HSST của Tòa án nhân dân quận G, buộc bị cáo chấp hành chung cho hai bản án là 39 tháng tù giam. (Đã xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/07/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đốn Đa, Thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận Đ, Thành phố Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 03/07/2023, tổ công tác Công an phường Tr phát hiện một thanh niên mặc áo Grab điều khiển xe máy Honda Airblade không biển kiểm soát chở theo Lê Xuân Kh đến khu vực sân chơi Con Voi, phường Tr, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nam thanh niên mặc áo Grab dừng xe tại cạnh bốt điện trong sân chơi Con Voi, Kh đi bộ vào trong sân nhà E5B Tr vài phút rồi quay lại. Thấy có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiến đến kiểm tra và Kh bỏ chạy đến khu vực trước phòng 102-E5B, phường Tr, quận Đ, thành phố Hà Nội thì bị bắt giữ. Nam thanh niên mặc áo Grab đã lên xe máy bỏ đi. Quá trình kiểm tra, Cơ quan công an phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Kh có 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 chiếc xy lanh chưa qua sử dụng. Ngoài ra, Cơ quan công an còn tạm giữ của Kh 01 điện thoại di động Iphone 11 màu tím.
Tại bản kết luận giám định số 4574/KL-KTHS ngày 10/07/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,134 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Xuân Kh khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2023, Kh đã thuê xe ôm dọc đường của một người đàn ông mặc áo Grab chở từ khu vực Dịch Vọng, quận G, thành phố Hà Nội đến khu vực Tr, quận Đ, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến lối vào nhà E5B Tr thì Kh bảo người xe ôm dừng xe đứng đợi còn Kh đi bộ vào sân nhà E5B Tr gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Kh cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải rồi đi về phía người xe ôm đứng đợi thì bị Tổ công tác Công an phường Tr kiểm tra. Khi đó, Kh liền bỏ chạy đến trước phòng 102 – E5B Tr thì bị cơ quan công an bắt giữ và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 353/2023/HSST ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luât Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân Kh 20 (hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt còn lại của Bản án số 47/2022/HS-ST ngày 18/05/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ là 4 (bốn) tháng 06 (sáu) ngày tù. Buộc Lê Xuân Kh phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (hai mươi tư) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/07/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/11/2023, bị cáo Lê Xuân Kh có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của những đối tượng liên quan, biên bản thu giữ tang vật, kết luận giám định trọng lượng ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Xuân Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo 20 tháng tù là phù hợp, tại cấp phúc thẩm không có tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, bác kháng cáo của bị cáo Lê Xuân Kh, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của những đối tượng liên quan, biên bản thu giữ tang vật, kết luận giám định trọng lượng ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2023, tại khu vực lối vào nhà E5B Tr, quận Đ, Hà Nội, Lê Xuân Kh có hành vi tàng trữ 0,134 gam ma túy loại heroine, với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ Công tác Công an phường Tr bắt quả tang. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo của thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Nhân thân bị cáo đã có 03 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai làm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo 20 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của
bản án sơ thẩm, xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luât Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân Kh 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt còn lại của Bản án số 47/2022/HS-ST ngày 18/05/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ là 4 (bốn) tháng 06 (sáu) ngày tù. Buộc Lê Xuân Kh phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (hai mươi tư) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/07/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Xuân Kh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/02/2024.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân thành phố Hà Nội; - VKSND quận Đ, HN; - Công an quận Đ HN; - TAND quận Đ, HN; - Chi cục THADS quận Đ, HN; - Bị cáo; - Lưu HSVA; VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Quang |