vanban.org

Bản án 86/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/10/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2024. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong kín, trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên ngoài có chữ ký và tên của các thành phần tham gia niêm phong, củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-ST
Ngày 28-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thế Độ

Ông Lê Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức A (tên gọi khác: không có), sinh ngày 26 tháng 02 năm 1963 tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Hộ khẩu thường trú: số *, ngõ *A T S, phường QTr, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: thôn CD, xã ĐT, huyện HL, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Th (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); vợ, con: có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 18/3/1986, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân theo Bản án số 84; ngày 21/4/1988, Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 211; ngày 28/12/1990, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ theo Bản án số 537; ngày 21/5/1996, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 454; ngày 27/6/2005, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 304/HSST, ngày 29/5/2007 đã chấp hành xong; ngày 26/10/2010, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 465/HSST, ngày 26/7/2012 đã chấp hành xong; ngày 16/9/2015, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 241/HSST, ngày 04/10/2016 đã chấp hành xong; ngày 26/3/1989, Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội bắt về hành vi cố ý gây thương tích; ngày 31/8/1999, Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội lập danh bản về hành vi cố ý gây thương tích; ngày 27/12/1999, Công an quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 20/12/2002, Công an phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 06/02/2004, Công an phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hữu Lũng từ ngày 15/6/2024 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số *, ngách */* CB, phường KTh, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ, ngày 15/6/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Đức A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 99V1-7582 đi từ thôn CD, xã ĐT, huyện HL đến thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang gặp một người đàn ông không quen biết nhờ người này mua hộ 01 gói ma túy Heroin với giá 300.000 đồng và trả cho người này 100.000 đồng tiền công. Sau đó Nguyễn Đức A cất ma túy vào túi áo phía trên bên phải và điều khiển xe mô tô đi về xã Minh Sơn để sử dụng. Đến 10 giờ 14 phút cùng ngày, khi đi đến Km 92 Quốc lộ 1 thuộc thôn Văn Miêu, xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn thì bị bắt quả tang, thu giữ 01 gói gấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 99V1-7582.

Tại bản kết luận giám định số 699/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận chất cục bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức A là ma túy Heroin có khối lượng 0,128 gam.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể do Công an huyện Hữu Lũng lập ngày 15/6/2024 đối với Nguyễn Đức A có kết quả dương tính với chất ma túy Heroin.

Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSHL, ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức A về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra anh Nguyễn Đức Qúy trình bày: Anh là anh trai ruột của bị cáo, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 99V1-7582 là của anh. Do bị cáo bị bệnh nên anh đến nhà bị cáo sống cùng để chăm sóc và mang theo chiếc xe này. Ngày 15/6/2024, bị cáo lấy xe đi đâu anh không biết. Đề nghị xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức A thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong kín, trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký và tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, Công an xã Minh Sơn; trả lại anh Nguyễn Đức Qúy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 99V1-7582, màu sơn trắng nâu, xe đã qua sử dụng; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức A là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/6/2024 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,128 gam ma túy Heroin. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức A không có tiền án, tiền sự nhưng đã nhiều lần bị xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính nên xác định bị cáo có nhân thân không tốt. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy là mẫu vật hoàn trả sau giám định đựng trong phong bì niêm phong là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 99V1-7582 là của anh Nguyễn Đức Qúy, anh không biết việc bị cáo mang xe đi mua ma túy nên cần trả lại.

Về đối tượng liên quan đến việc mua chất ma túy cho bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đức A khai nguồn gốc số ma túy là do bị cáo nhờ của một người đàn ông tại khu vực ngã tư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang mua hộ, tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng trên. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý đối tượng nói trên trong vụ án này.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2024.

3. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong kín, trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên ngoài có chữ ký và tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, Công an xã Minh Sơn; trả lại anh Nguyễn Đức Qúy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 99V1-7582, màu sơn trắng nâu, xe đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng ngày 07/10/2024).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ