vanban.org

Bản án 86/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Mai Xuân T1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng…

Bị cáo Nguyễn Duy T2 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Xuân T cùng các đồng phạm "mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất am túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Mai Xuân T1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-ST
Ngày 25 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hoài Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh

Ông Võ Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Danh Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Mai Xuân T1 (Tên gọi khác: C) - sinh năm: 1989 tại Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Xuân P – sinh năm: 1963 và bà Lê Thị P – sinh năm: 1964; vợ: Nguyễn Thị Bích N – sinh năm: 1991; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 07/5/2020 bị UBND huyện Cam Lâm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ đồ chơi nguy hiểm” với số tiền 7.500.000 đồng; bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 24/02/2024 và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lâm từ ngày 04/3/2024. “Có mặt”

2. Nguyễn Duy T2 (Tên gọi khác: C) - sinh năm: 1991 tại Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn X – sinh năm: 1959 và bà Võ Thị X – sinh năm: 1961; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/5/2024 bị Công an huyện Cam Lâm ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng; bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 24/02/2024 và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lâm từ ngày 04/3/2024. “Có mặt”

3. Lê Văn H (Tên gọi khác: T) - sinh năm: 1999 tại Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và bà Trần Thị V – sinh năm: 1976; vợ: Nguyễn Ngọc Anh Đ – sinh năm: 1995; con: có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 24/02/2024 và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lâm từ ngày 04/3/2024. “Có mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Thị Bích N – sinh năm: 1991; nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. “vắng mặt”

2. Nguyễn X – sinh năm: 1959; nơi cư trú: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. “có mặt”

- Người làm chứng: Nguyễn Phước T, Phạm Văn S, Trần Đình T, Lê Nguyễn Hoàng S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, Nguyễn Duy T2 và Lê Văn H đến nhà của Mai Xuân T1 ở tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C để phụ giúp T1 sửa lại cửa cổng. Tại đây, T1 lấy ra 01 bịch nylon chứa ma túy đá và bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nỏ thủy tinh, được gắn trong chai nhựa và 01 đầu khò để rủ T2 và H sử dụng ma túy. Sau khi H xé bịch nylon đổ ma túy đá vào trong nỏ thủy tinh chuẩn bị hơ lửa để sử dụng thì vừa lúc đó vợ T1 là Nguyễn Thị Bích N chở con đi học về nên nhóm T1 dừng lại và đem bộ dụng cụ vào phòng ngủ của T1 cất giấu. Thấy sử dụng ma túy ở nhà bất tiện nên T1 rủ H và T2 đến nhà của T2 nằm trên đường Đ thuộc tổ dân phố B, thị trấn C để sử dụng ma túy thì cả hai đồng ý. T1 bảo H vào phòng ngủ của T1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang theo. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 79TA - 035.98 chở T1 đến nhà của T2. Khi đến nơi, H đặt bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên nền nhà, T2 lấy ra chai nhựa và 01 hộp nhựa màu xanh, bên trong có 11 bịch nylon chứa ma túy đá. Sau đó, T2 lấy nỏ thủy tinh do H đem đến gắn vào chai nhựa và H dùng bật lửa hơ nóng số ma túy đá có trong nỏ thủy tinh để cả ba cùng thay phiên nhau sử dụng. Một lúc sau, T2 nhận được điện thoại của Nguyễn Phước T3 hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá thì T2 hẹn T3 đến trước nhà để giao. T2 lấy 02 bịch nylon chứa ma túy trong hộp nhựa ra cắt và dồn số ma túy vào 01 bịch lớn, rồi hàn kín lại. Sau đó, T2 cầm bịch ma túy ra phía trước nhà, chờ T3 đến để giao.

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 23/02/2024, T3 đến đưa cho T2 1.000.000 đồng, T2 nhận tiền cất vào túi quần phía trước bên phải nhưng chưa kịp giao ma túy thì lúc này có Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Môi trường Công an huyện Cam Lâm phối hợp với Công an thị trấn Cam Đức đang đi tuần tra ngang qua thấy T2 có biểu hiện nghi vấn nên dừng lại để kiểm tra thì phát hiện trên tay của T2 đang cầm 01 bịch nylon màu trắng trong, được hàn kín, kích thước (2,9 x 2,1)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu C). Lúc này, T2 hô lớn “anh Chuột ơi” thì T1 và H ở trong nhà đứng dậy, nhìn ra phía trước thấy T2 bị lực lượng Công an đang khống chế nên cả hai chạy ra phía sau. Quá trình tháo chạy, T1 đá trúng bộ dụng cụ sử dụng ma túy làm vỡ, còn H cúi xuống cầm hộp nhựa đựng các bịch nylon chứa chất tinh thể màu trắng vứt ra ngoài cửa sổ. Khi chạy ra phía sau, thấy cửa đóng nên cả hai quay ra phía trước thì bị lực lượng Công an khống chế, giữ lại. Kiểm tra bên trong căn nhà, Tổ công tác phát hiện trên nền gian phòng khách có 02 bịch nylon màu trắng trong, bị cắt 01 đầu, có cùng kích thước (3,1 x 0,9)cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu B), 01 đoạn ống hút thủy tinh dài 4,8cm, đường kính 0,5cm cùng một số mảnh vỡ thủy tinh, bên trong thành ống có bám dính chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A). Tại lối đi thông từ gian phòng khách ra gian bếp có 01 chai nhựa màu trắng trong, kích thước (11 x 6)cm có nắp đậy bằng nhựa màu đen dạng nắp xoay, trên nắp đục 02 lỗ, trong đó có 01 lỗ gắn 01 đoạn ống (được gắn từ 02 đoạn ống nhựa có cùng chiều dài là 14,5cm), bên trong chai có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 09cm, một đầu được hàn kín. Tại phần đất vườn xoài gần cửa sổ bên trái của gian phòng khách phát hiện 01 hộp nhựa bên trong đựng 09 bịch nylon màu trắng trong, được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (trong đó: 04 bịch có cùng kích thước (3,3 x 0,9)cm; 02 bịch có cùng kích thước (1,2 x 2,8)cm; 03 bịch có cùng kích thước (3,4 x 1,1)cm - tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu D). Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở Công an để làm việc.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cam Lâm tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Mai Xuân T1 thuộc tổ dân phố T, thị trấn C đã thu giữ một số dụng cụ (kéo kim loại, bịch nilon, ống hút) theo T1 khai là phục vụ cho việc mua bán trái phép chất ma túy.

Qua xét nghiệm, Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2 và Lê Văn H đều cho kết quả dương tính với chất Methamphetamine (ma túy đá).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn xác định: T1 và T2 là những người thường xuyên sử dụng ma túy đá. Để có tiền mua ma túy sử dụng, T1 đã liên hệ đặt mua ma túy từ 01 người ở thành phố Hồ Chí Minh có tài khoản Facebook tên “Ốc”. Sau khi giao dịch, T1 nhận được ma túy thông qua dịch vụ xe khách và đưa tiền mặt. T1 đã mua ma túy từ “Ốc” tổng cộng 03 lần. Lần thứ nhất vào đầu tháng 01/2024 với số tiền 1.000.000 đồng được 05 bịch ma túy đá; lần thứ hai vào đầu tháng 02/2024 cũng với số tiền 1.000.000 đồng được 05 bịch ma túy đá; lần thứ ba vào ngày 23/02/2024 với số tiền 1.500.000 đồng được 12 bịch ma túy đá. Đối với lần thứ ba, sau khi mua, T1 giữ lại 01 bịch sử dụng cho nhu cầu bản thân; 11 bịch còn lại T1 giao hết cho T2 để phân chia và cùng T1 bán lại cho các đối tượng nghiện khác nhằm mục đích kiếm lời.

Đối với Mai Xuân T1 đã bán ma túy cho 02 người, cụ thể: Vào lúc 13 giờ 43 phút ngày 09/01/2024, Trần Đình T4 gọi điện thoại cho T1 hỏi mua ma túy. Lúc này, T1 liên lạc lấy 01 bịch ma túy đá từ T2 và giao cho T4 tại khu vực gần tiệm tạp hóa “Nga” trên đường Lê Lai thuộc tổ dân phố Tân Hải, thị trấn Cam Đức với số tiền 300.000 đồng. Vào lúc 14 giờ 23 phút ngày 12/02/2024, cũng tại địa điểm trên, T1 đã bán cho Phạm Văn S 01 bịch ma túy đá cũng với số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, T1 còn giới thiệu Nguyễn Lê Hoàng S và người thanh niên tên “Sở” nhà ở Cam Tân liên lạc mua ma túy đá từ T2.

Đối với Nguyễn Duy T2 đã bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ bán cho một số người cụ thể như sau: Vào trưa ngày 15/02/2024, “Sở” gọi điện vào Zalo tên “Thanhduy” của T2 để hỏi mua ma túy đá. T2 cầm 01 bịch ma túy trên tay đi bộ từ trong nhà ra giao cho “Sở” tại khu vực gần nhà nghỉ Thanh Thanh thuộc thôn Bãi Giếng 2, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm với số tiền 300.000 đồng. Vào lúc 12 giờ 33 phút ngày 18/02/2024, cũng tại địa điểm trên, T2 đã bán cho Phạm Văn Sg 01 bịch ma túy đá cũng với số tiền 300.000 đồng. Vào chiều ngày 20/02/2024, Nguyễn Phước T3 gọi điện cho T2 để hỏi mua ma túy đá và T2 đã hẹn đến khu vực đường Đại Hàn thuộc tổ dân phố Bãi Giếng 2, thị trấn Cam Đức để giao cho T3 và nhận về số tiền 300.000 đồng. Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, tại khu vực gần nhà nghỉ Thanh Thanh, T2 đã bán cho Nguyễn Lê Hoàng S 01 bịch ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 23/02/2024, T3 gọi điện thoại cho T2 để hỏi mua ma túy đá thì được T2 hẹn giao tại khu vực trước nhà trên đường Đại Hàn, tổ dân phố Bãi Giếng 2, thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm. Khi T2 vừa nhận 1.000.000 đồng và chuẩn bị giao ma túy cho T3 thì bị cơ quan Công an phát hiện.

Tại Kết luận giám định số: 140/2024/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:

- Tinh thể màu trắng bám dính trong các mẫu ký hiệu A, B gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, đều không xác định được số lượng.

- Tinh thể màu trắng trong các mẫu C, D gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine.

+ Mẫu C có khối lượng 0,5235g;

+ Mẫu D có khối lượng 1,3451g.

Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKS-CL ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm e khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Mai Xuân T1 và Nguyễn Duy T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; truy tố Lê Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Che giấu tội phạm”.

Đối với các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mai Xuân T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của hai tội. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T2 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của hai tội.

Đối với bị cáo Lê Văn H: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và điểm e khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Che giấu tội phạm”. Xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Che giấu tội phạm”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của hai tội.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.420.000 đồng theo Giấy nộp tiền ngày 16/9/2024 vào tài khoản số 3949.0.9057593.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Cam Lâm.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu vàng đồng, bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0918959300 và 0394641035 (của Nguyễn Duy T2); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu tím, bên trong gắn sim điện thoại số 0975439543 (của Mai Xuân T1) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (16x7,5)cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (14x7)cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (10,5x4,5)cm; 01 (một) bật lửa gas màu vàng; 03 (ba) bịch nilon, loại khóa khằn miệng, màu trắng trong, kích thước (3x4)cm, (4,5x2,5)cm, (6x6,5)cm (không chứa gì bên trong); 04 đoạn ống hút nhựa, màu trắng trong, có cùng kích thước (3x1)cm; 01 (một) hộp nhựa màu xanh lá, kích thước (6,3x3,6x1,7)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 16cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 17,5cm, phần cán bọc nhựa màu đỏ, một phần cán nhựa bị gãy; 01 (một) đầu khò nhãn hiệu Namilux, màu cam, dài 21cm; 01 bật lửa gas; 01 chai nhựa, màu trắng trong, kích thước (11x6)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen dạng nắp xoay, trên nắp đục 02 lỗ, trong đó: có 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa, màu trắng - đỏ - cam dài 28cm, bên trong chai có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng trong dài 09cm, có một đầu hàn kín theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu xanh, bên trong gắn sim điện thoại số 0778280051 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

- Các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2, Lê Văn H khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng số 80/CT-VKS-CL ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn X không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích N và những người làm chứng Nguyễn Phước T3, Phạm Văn S, Trần Đình T4, Lê Nguyễn Hoàng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cam Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2, Lê Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ căn cứ để kết luận: Mai Xuân T1 và Nguyễn Duy T2 là những người không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy. Để có tiền sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân, T1 đã liên hệ mua ma túy đá từ đối tượng tên “Ốc” ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó về giao cho T2 để chia nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời, đồng thời sử dụng cho nhu cầu bản thân của T1 và T2.

Mai Xuân T1 đã bán ma túy cho Trần Đình T4 vào ngày 09/01/2024 và bán cho Phạm Văn S vào ngày 12/02/2024, tại khu vực đường Lê Lai thuộc tổ dân phố Tân Hải, thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm, mỗi lần bán 01 bịch ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Nguyễn Duy T2 đã bán ma túy cho Phạm Văn S vào ngày 18/02/2024; bán cho Nguyễn Lê Hoàng S vào ngày 22/02/2024; bán cho Nguyễn Phước T3 vào ngày 20/02/2024 và 23/02/2024 tại khu vực thôn Bãi Giếng 2, xã Cam Hải Tây và tổ dân phố Bãi Giếng 2, thị trấn Cam Đức, mỗi lần bán 01 bịch ma túy đá với số tiền 300.000 đồng (riêng ngày 23/02/2024, T2 bán 01 bịch ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng). Ngoài ra, T2 còn bán ma túy cho cho một số đối tượng khác nhưng không rõ về nhân thân, lai lịch.

Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy, vào hồi 17 giờ ngày 23/02/2024, Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2 và Lê Văn H đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Nguyễn Duy T2 thuộc tổ dân phố Bãi Giếng 2, thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm. Trong đó: Mai Xuân T1 là người khởi xướng, rủ rê, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho 02 người trở lên cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Duy T2 là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho 02 người trở lên cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Lê Văn H là người giúp sức cho T1 và T2 trong việc chuẩn bị dụng cụ, chuẩn bị chất ma túy (dùng bật lửa hơ, nấu ma túy) để tổ chức cho 02 người trở lên cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, tại thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện vào ngày 23/02/2024, H đã có hành vi dùng tay cầm hộp nhựa đựng 09 bịch nylon bên trong chứa 1,3451 gam ma túy, loại Methamphetamine của T1 và T2 vứt ra ngoài cửa sổ nhằm mục đích che giấu tang vật của tội phạm, cản trở việc phát hiện, xử lý tội phạm.

Các hành vi của bị cáo Mai Xuân T1 và bị cáo Nguyễn Duy T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các hành vi của bị cáo Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội che giấu tội phạm theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn, bạo lực trong xã hội. Ngoài ra, hành vi che giấu tội phạm của bị cáo Lê Văn H còn xâm phạm đến hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm của các cơ quan chức năng. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Xét vai trò, tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo:

- Đối với bị cáo Mai Xuân T1: Bị cáo là chủ mưu, đồng thời là người thực hành tích cực, đã nhiều lần mua ma túy rồi đưa cho Nguyễn Duy T2 chia nhỏ bán lại để kiếm lời. Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ để tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo là người đã thành niên, không bị hạn chế về khả năng nhận thức. Vì vậy, phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Đối với bị cáo Nguyễn Duy T2: Bị cáo là người thực hành tích cực, đã nhiều lần nhận ma túy từ Mai Xuân T1 rồi chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện hành vi cung cấp địa điểm và dụng cụ để tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo là người đã thành niên, không bị hạn chế về khả năng nhận thức. Vì vậy, phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Đối với bị cáo Lê Văn H: Bị cáo là người thực hành tích cực, đã thực hiện hành vi chuẩn bị ma túy và dụng cụ để tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện hành vi che giấu tang vật phạm tội của các bị cáo T1, T2. Bị cáo là người đã thành niên, không bị hạn chế về khả năng nhận thức. Vì vậy, phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2, Lê Văn H không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, đang bị tạm giam nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Ngày 23/02/204, Nguyễn Phước T3 có hành vi mua ma túy của Nguyễn Duy T2 để sử dụng. Tuy nhiên, T3 chưa nhận được ma túy (chưa cầm giữ hoặc cất giấu được ma túy) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T3 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Các đối tượng Trần Đình T4, Phạm Văn S, Nguyễn Lê Hoàng S, Nguyễn Phước T3 có hành vi mua chất ma túy để sử dụng. Công an huyện Cam Lâm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người này là có căn cứ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên “Ốc” đã bán ma túy cho Mai Xuân T1 và đối tượng tên “Sở” đã mua ma túy của Nguyễn Duy T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm đang tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số ma túy thu giữ được đã làm mẫu gửi đi giám định và Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập giải quyết.

- Đối với vật chứng là số tiền 1.420.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Nguyễn Duy T2: Hội đồng xét xử xét thấy số tiền này là khoản thu lợi bất chính có được từ việc mua bán trái phép chát ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu vàng đồng, bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0918959300 và 0394641035 (của Nguyễn Duy T2); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu tím, bên trong gắn sim điện thoại số 0975439543 (của Mai Xuân T1): Hội đồng xét xử xét thấy đây là phương tiện mà các bị cáo sử dụng liên lạc nhằm mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (16x7,5)cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (14x7)cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (10,5x4,5)cm; 01 (một) bật lửa gas màu vàng; 03 (ba) bịch nilon, loại khóa khằn miệng, màu trắng trong, kích thước (3x4)cm, (4,5x2,5)cm, (6x6,5)cm (không chứa gì bên trong); 04 đoạn ống hút nhựa, màu trắng trong, có cùng kích thước (3x1)cm; 01 (một) hộp nhựa màu xanh lá, kích thước (6,3x3,6x1,7)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 16cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 17,5cm, phần cán bọc nhựa màu đỏ, một phần cán nhựa bị gãy; 01 (một) đầu khò nhãn hiệu Namilux, màu cam, dài 21cm; 01 bật lửa gas; 01 chai nhựa, màu trắng trong, kích thước (11x6)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen dạng nắp xoay, trên nắp đục 02 lỗ, trong đó: có 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa, màu trắng - đỏ - cam dài 28cm, bên trong chai có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng trong dài 09cm, có một đầu hàn kín không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu xanh, bên trong gắn sim điện thoại số 0778280051 (của Lê Văn H): Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không sử dụng điện thoại này làm phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo Lê Văn H.

Về án phí: Các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2, Lê Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2.

Xử phạt:

+ Bị cáo Mai Xuân T1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2024.

+ Bị cáo Nguyễn Duy T2 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2024.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và điểm e khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Che giấu tội phạm” và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Văn Hòa.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Che giấu tội phạm”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2024.

* Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.420.000 đồng theo Giấy nộp tiền ngày 16/9/2024 vào tài khoản số 3949.0.9057593.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Cam Lâm.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu vàng đồng, bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0918959300 và 0394641035 (của Nguyễn Duy T2); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu tím, bên trong gắn sim điện thoại số 0975439543 (của Mai Xuân T1) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (16x7,5)cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (14x7)cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng, kích thước (10,5x4,5)cm; 01 (một) bật lửa gas màu vàng; 03 (ba) bịch nilon, loại khóa khằn miệng, màu trắng trong, kích thước (3x4)cm, (4,5x2,5)cm, (6x6,5)cm (không chứa gì bên trong); 04 đoạn ống hút nhựa, màu trắng trong, có cùng kích thước (3x1)cm; 01 (một) hộp nhựa màu xanh lá, kích thước (6,3x3,6x1,7)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu xanh; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 16cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 17,5cm, phần cán bọc nhựa màu đỏ, một phần cán nhựa bị gãy; 01 (một) đầu khò nhãn hiệu Namilux, màu cam, dài 21cm; 01 bật lửa gas; 01 chai nhựa, màu trắng trong, kích thước (11x6)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu đen dạng nắp xoay, trên nắp đục 02 lỗ, trong đó: có 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa, màu trắng - đỏ - cam dài 28cm, bên trong chai có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng trong dài 09cm, có một đầu hàn kín theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu xanh, bên trong gắn sim điện thoại số 0778280051 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

* Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2, Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Mai Xuân T1, Nguyễn Duy T2, Lê Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn X được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ