vanban.org

Bản án 86/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Xử phạt: Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN N - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-PT
Ngày 22 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Thẩm phán: 1. Ông Ngô Ngọc Thắng.

2. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án Nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn N; sinh ngày 19 tháng 12 năm 1983 tại Long An; thường trú: Tổ 57A Ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; cư trú: Tổ 57A Ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị N1; có vợ nhưng chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2022, Nguyễn Văn N có nhu cầu nuôi “thú cưng” nên lên mạng xã hội Facebook vào trang “Hội yêu Rái Cá M” để tìm hiểu. Sau đó, Nhiều mua 02 cá thể động vật Rái Cá 02 tuần tuổi của đối tượng chưa rõ lai lịch giá là 4.500.000 đồng đem về nuôi, nhốt trong chuồng tại khu vực sân thượng nhà riêng tại Tổ E Ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Đến tháng 6/2023, do không có thời gian chăm sóc, N lên mạng xã hội Facebook vào trang “Hội yêu Rái Cá M” đăng tin bán lại 02 cá thể động vật Rái Cá đang nuôi, nhốt. Ngày 19/6/2023, tài khoản Z tên “Thúy” (không rõ lai lịch) sử dụng điện thoại số 0387952311 liên hệ Nhiều thỏa thuận mua lại 02 cá thể động vật Rái Cá giá là 16.000.000 đồng. Nhiều đồng ý bán nên “Thúy” chuyển khoản qua ứng dụng MoMo cho N số tiền là 1.000.000 đồng để đặt cọc và hẹn giao 02 cá thể động vật Rái Cá vào lúc 06 giờ 30 phút ngày 27/6/2023 tại trước chung cư G số B B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, Nhiều thuê xe ôtô của anh Trương Quốc T1 chở từ L, tỉnh Đồng Nai đến chung cư G số B B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều đang ngồi trên xe chờ “T2” đến để giao 02 cá thể động vật Rái Cá thì bị Tổ tuần tra Công an Q thấy có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Cơ quan Công an phát hiện Nhiều đang cất giữ 02 cá thể động vật Rái Cá trong giỏ nhựa không xuất trình được giấy phép nuôi, nhốt, nên đã tiến hành thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận giám định động vật số 1014/STTNVS ngày 29/6/2023 của V kết luận:

- 02 cá thể động vật trong bản ảnh giám định là loài Rái cá vuốt bé có tên khoa học là Aonyx C. Loài Rái Cá vuốt bé thuộc lớp Thú, bộ ăn thịt;

- Loài Rái Cá có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính Phủ. Loài Rái Cá vuốt bé có trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/02/2021 của Chính phủ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 20/12/2023 bị cáo N kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhận định án sở thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự bền vững và ổn định của môi trường sinh thái tự nhiên. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ, mua bán cá thể động vật trái phép thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Với tính chất, mức độ và hậu quả phạm tội do bị cáo gây ra thì Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định; hiện đang nuôi chị gái ruột bị bệnh và bản thân bị cáo bị bệnh hiếm muộn. Đối chiếu với các quy định pháp luật, xét thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, khi nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hình thức: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét kháng cáo được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, cần chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 27/6/2023, Nguyễn Văn N mang 02 cá thể Rái cá đến chung cư G số B B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để bán cho một người tên T2 (không rõ lai lịch) thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 02 cá thể Rái cá.

Tại Kết luận giám định động vật số 1014/STTNVS ngày 29/6/2023 của V kết luận: - 02 cá thể động vật trong bản ảnh giám định là loài Rái cá vuốt bé có tên khoa học là Aonyx C, thuộc Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính Phủ và Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/02/2021 của Chính phủ.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: bị cáo có hành vi tàng trữ, mua bán 02 cá thể Rái cá vuốt bé thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự phát triển bền vững của động vật nguy cấp quý hiếm được bảo vệ, xâm phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý hiếm. Do đó, mức hình phạt đặt ra phải nghiêm khắc, cần cách ly các bị cáo một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nhất.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ và hậu quả phạm tội do bị cáo gây ra để xử phạt bị cáo 01 năm tù (mức án đầu khung hình phạt theo Điều luận viện dẫn) là thỏa đáng, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày các tài liệu thể hiện gia đình có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang là lao động chính, bản thân bị bệnh hiếm muộn. Tuy nhiên, với tính chất, mức độ phạm tội nghiêm trọng, buôn bán 02 cá thể rái cá cùng một lúc để hưởng lợi nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ