vanban.org

Bản án 86/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 05/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lò Thị N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,74 gam Heroine vật chứng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Thị N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HSST
Ngày: 05/07/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà: Lý Thị The.

Bà: Pờ Hồng Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TL-ST-HS, ngày 25 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo.

- Lò Thị N: Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/11/1979; nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi đăng ký HKTT: Bản Nậm C, xã Bum N, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Mảng; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lò Văn N ( đã chết) và con bà Lò Thị P (đã chết); chồng Lò Văn N, sinh năm 1974; con, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án: Có 03 tiền án; ngày 20/07/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ; ngày 28/09/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 10/07/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, cả ba tội này chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; Nhân thân đã bị xử lý; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Thị N: Ông Nguyễn Xuân Oánh - Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Vàng Văn H, sinh năm 1996 - Trú tại: Bản Nà H, xã Bum N, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 16/12/2022, Lò Thị N đang ở nhà của mình tại bản Nậm C thì có một người đàn ông lạ mặt đi vào và qua trao đổi, N mua được của người đàn ông này 01 (một) gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 800.000 đồng, N cất giấu gói Heroine trên vách nhà trong buồng ngủ của N. Khoảng gần 13 giờ ngày 17/12/2022 có Vàng Văn H đi vào nhà của N hỏi “ Chị ơi, có Heroine không? bán cho em 50.000 đồng”, N nói “Chị có một ít” rồi lấy Heroine trên vách nhà trong buồng ngủ dùng tay bẻ lấy một ít Heroine đưa cho H, H đưa 50.000 đồng cho N, sau đó N cất gói Heroine lại vị trí cũ. Khoảng 13 giờ cùng ngày khi H vừa sử dụng Heroine xong tại nhà của N, thì bị tổ công tác Công an huyện Mường T và Công an xã Bum N đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác lập biên bản thu giữ 01 (một) gói Heroine và số tiền 50.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 03/KLGĐ, ngày 17/12/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: Mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Thị N có khối lượng là 1,96 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 17/GĐ-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số: 16/GĐ-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đ (năm mươi ngàn đồng) có mã số hiệu UG 17442053 gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKS-MT ngày 24 tháng 05 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố Lò Thị N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Lò Thị N về tội danh "Mua bán phép chất ma túy" theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Thị N từ: 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,74 gam Heroine vật chứng còn lại của Lò Thị N; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu xanh. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đ (năm mươi ngàn đồng) có mã số hiệu UG 17442053 là tiền thật do Lò Thị N bán Heroine cho Vàng Văn H mà có.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất trong mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 17/12/2022, tại nhà ở của mình thuộc bản Nậm C, xã Bum N, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Lò Thị N chưa được xóa án tích, đã tái phạm nguy hiểm có hành vi bán trái phép 01 (một) gói Heroine với giá 50.000 đồng cho Vàng Văn H để sử dụng, ngoài ra N còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,96 gam Heroine để bán lẻ kiếm lời thì bị tổ công tác Công an huyện Mường T và Công an xã Bum N, huyện Mường T, tỉnh Lai C phát hiện bắt quả tang. Số Heroine này có chung nguồn gốc với số Heroine N bán cho H, như vậy N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép Heroine với tổng khối lượng là 1,96 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Lò Thị N luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (đan tộc Mảng), nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã Bum N, huyện Mường T là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Thị N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân bị cáo Lò Thị N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 02/12 thì bỏ học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo đã có 03 tiền án; ngày 20/07/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 28/09/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 10/07/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tính đến thời điểm phạm tội ngày 17/12/2022 chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự là “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi mua bán chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số (dân tộc Mảng), thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã Bum N thuộc huyện Mường T là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,74 gam Heroine vật chứng còn lại của Lò Thị N; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu xanh. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đ (năm mươi ngàn đồng) có mã số hiệu UG 17442053 là tiền thật do Lò Thị N bán Heroine cho Vàng Văn H mà có. [8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số (dân tộc Mảng), thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã Bum N thuộc huyện Mường T là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lò Thị N đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52; mức hình phạt; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine với giá 800.000 đồng cho bị cáo Lò Thị N. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với Vàng Văn H là người đã mua Heroine của Lò Thị N để sử dụng, sau khi mua được Heroine, H không xin phép N và N không biết H sử dụng Heroine tại nhà của N nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Ngày 10/01/2023 Công an huyện Mường T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố đối H. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Lò Thị N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Thị N: 08 (tám) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/12/2022.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,74 gam Heroine vật chứng còn lại của Lò Thị N; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu xanh. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đ (năm mươi ngàn đồng) có mã số hiệu UG 17442053 là tiền thật do Lò Thị N bán Heroine cho Vàng Văn H mà có.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ