vanban.org

Bản án 86/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 25/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/-Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Danh K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/- Áp dụng điểm o khoản 2 điều 249; điều 17, điều 58, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - Danh K - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? 1/-Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Danh K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 86/2023/HSST.
Ngày 25/5/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN- TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bá Lộc

2. Bà Nguyễn Thị Di

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại TAND huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 18/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H; Sinh năm 1987 tại Bà Rịa Vũng Tàu; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ C, khu phố A, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Là con ông: Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị G;

Tiền án:

- Ngày 06/5/2006, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong vào ngày 24/9/2009).

- Ngày 09/4/2010, Toà án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (Chấp hành xong vào ngày 19/9/2017).

- Ngày 25/10/2018, Toà án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Chấp hành xong vào ngày 13/10/2022).

Tiền sự: Không.

Bị cáo H bị bắt tạm giam ngày 16/01/2023, có mặt tại phiên tòa.

2. Danh K1; Sinh năm 2004 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Dân tộc: Khơ me; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 01; Nghề nghiệp: lao động tự do; Là con ông Danh B và Nguyễn Thị P; Bị cáo K1 sống chung với bà Nguyễn Thị Mai T (Không đăng ký kết hôn), có 01 người con (Sinh năm 2021);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo K1 bị bắt tạm giam ngày 13/01/2023, có mặt tại phiên tòa.

+ Người chứng kiến:

Bà Võ Thị Thu B1, sinh năm 1991 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 21/11/2022, bị cáo H nhờ một người phụ nữ tên T1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua 500.000 đồng ma túy đá, T1 đồng ý. Bị cáo H điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển số và nhãn hiệu) chở T1 đi đến đường hẻm thuộc khu vực Ẹo Ô, thành phố V để mua ma túy. Đến nơi, bị cáo H đưa cho T1 số tiền 500.000 đồng còn bị cáo H ở lại trông xe, T1 đi bộ vào hẻm mua ma tuý. Một lúc sau, T1 đi ra đưa cho bị cáo H 01 gói ma túy rồi đi về. Sau khi có ma túy, bị cáo H sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo H cất giấu vào túi quần.

Đến khoảng 08 giờ ngày 22/11/2022, bị cáo H và bị cáo Danh K1, ngồi uống cà phê tại quán S thuộc phường A, thành phố V. Tại đây, bị cáo H lấy gói ma tuý (T1 mua giúp bị cáo H) nhờ bị cáo K1 cất giữ dùm thì được bị cáo K1 đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo H quay lại quán Sao B2 nói với bị cáo K1 cầm gói ma túy đi với bị cáo H qua L để tìm nơi sử dụng. Bị cáo K1 cầm gói ma túy trong bàn tay còn bị cáo H điều khiển xe mô tô biển số 72B1- 018.46 chở bị cáo K1 đến quán cà phê L thuộc xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đang ở trước quán L, bị cáo K1 đưa gói ma túy cho bị cáo H thì lực lượng Công an xã P, huyện L đến kiểm tra nên bị cáo K1 làm rơi gói ma túy xuống đường. Ngay lúc này, Công an xã P lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với bị cáo H và bị cáo K1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, đồng thời thu giữ toàn bộ vật chứng để xử lý. Sau đó, Công an xã P, huyện L chuyển giao bị cáo H, bị cáo K1 cùng toàn bộ vật chứng liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan Công an, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận gói ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ là của bị cáo H nhờ bị cáo Danh K1 cất giấu mục đích để sử dụng. Đối với bị cáo Danh K1 khai nhận gói ma túy Cơ quan Công an thu giữ là của bị cáo H nhờ bị cáo K1 cất giấu.

Tại bản Kết luận giám định số Bản kết luận giám định số 499/KL-KTHS MT ngày 06/12/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu A gửi đến giám định có khối lượng 0,1221 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSLĐ ngày 17/4/2023 của VKSND huyện Long Điền: Truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Danh K1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người phụ nữ tên T1 đã mua ma túy giúp cho bị cáo H, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ để xử lý sau.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Điền vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều 249 của Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 01 điều 51, điều 17, điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: bị cáo H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù;

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 01 điều 51, điều 17, điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: bị cáo K1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù;

+ Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa ma túy, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, vụ số 499 ngày 06/12/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh B (Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Hoàn trả cho bị cáo H: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh (Đã qua sử dụng); Số tiền: 1.250.000 đồng.

Các bị cáo H, K1 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn H, Danh K1 thừa nhận hành vi tàng trữ ma túy như bản cáo trạng của VKSND huyện Long Điền đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập được qua quá trình điều tra, cho thấy:

Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 22/11/2022, tại khu vực trước quán C thuộc ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an xã P, huyện L bắt quả tang Nguyễn Văn H và Danh K1 tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, qua giám định có khối lượng 0,1221 gam loại Methamphetamine.

Gói ma túy trên do bị cáo K1 đưa cho bị cáo K1 cất giữ, để các bị cáo H, K1 cùng sử dụng.

Do đó, bị cáo K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị xử phạt theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự;

Đối với bị cáo H có 3 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị xử phạt theo điểm o khoản 2 điều 249 bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hành động phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn H, Danh K1 xâm phạm quyền quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện, tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra, có xem xét đến nhân thân của các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, qua vụ án này, xét thấy:

Bị cáo H và bị cáo K1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cân nhắc các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng trong vụ án:

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VKT loại Max, biển số 72B1-018.46 bị cáo Nguyễn Văn H mượn của một người đàn ông tên T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) qua xác minh do bà Nguyễn Thị Kim Á làm chủ sở hữu. Năm 2016, bà Á đã bán cho người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra thông báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ xe mô tô trên để xử lý theo quy định của pháp luật.

- 01 (một) gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa ma túy, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng, vụ số 499 ngày 06/12/2022 của Phòng K2, Công an tỉnh B:

Đây là vật chứng các bị cáo H, K1 tàng trữ ma túy, nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động Itel màu xanh (đã qua sử dụng), số tiền 1.250.000 đồng của bị cáo H không có liên quan đến việc tàng trữ ma túy, nên hoàn trả cho bị cáo H.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện L, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/-Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Danh K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/- Áp dụng điểm o khoản 2 điều 249; điều 17, điều 58, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2023.

3/- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điều 17, điều 58, điểm s khoản 01 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Danh K1 01 (Một) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2023.

4/- Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng như sau:

-Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa ma túy, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng, vụ số 499 ngày 06/12/2022 của Phòng K2, Công an tỉnh B (Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định);

Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) điện thoại di động Itel màu xanh (đã qua sử dụng); Số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Các vật chứng nêu trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 94/BB-CCTHADS ngày 18/4/2023 và biên lai thu tiền số 0001993 ngày 07/4/2023.

5/- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Danh K1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6/- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm./. * Nơi nhận:

Cỡ chữ