vanban.org

Bản án 86/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo …………….Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 02 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lâm T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86 /2023/HS-ST
Ngày: 28.7.2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhớ

Ông Nguyễn Duy Thảo

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Lê Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên – Kiểm sát viên

Ngày 28.7.2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử sở thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 06 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐST-HS ngày 30 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Lâm T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27 tháng 12 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 75, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Nơi tạm trú: Số 95 đường Ngô Gia Khảm, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông Trần Văn V, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Có vợ là Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1998; Có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2018 và nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án: Chưa.

Tiền sự: Chưa.

Nhân thân:

Ngày 31/7/2018, Trần Lâm T bị TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng. Ngày 15/3/2019, Lâm T chấp hành xong và về địa phương.

Ngày 27/10/2021, Lâm T bị Ủy ban nhân dân phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp tiền phạt vào ngày 02/11/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14 tháng 02 năm 2023, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đặng Thị Nhã T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ 19, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Tổ 75, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

- Bà Hồ Thị T, sinh năm 1947; nơi cư trú: Tổ 23, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2023, Trần Lâm T sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0775426443 gọi điện qua mạng xã hội Facebook Mesenger hỏi mua của một người thanh niên tên Ki (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) ma tuý đá thì Ki đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà Ki, gần khu vực bến xe Đức Long, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Lâm T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển kiểm soát 43X6-9420 chở bạn gái là Đặng Thị Nhã T (Sinh năm 1993, trú K111/4 đường Đ, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng) và nói vào nhà người anh chơi. Khi đến nhà Ki, Đặng Thị Nhã T đứng đợi phía dưới còn Trần Lâm T đi lên tầng hai gặp Ki để mua 01(một) gói ma túy đá với giá 2.000.000 đồng nhưng chưa trả tiền, Trần Lâm T cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Trần Lâm T chở Đặng Thị Nhã T về trước nhà trọ ở số 95 đường K, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê thì bị lực lượng phòng chống ma tuý và tội phạm Đồn Biên phòng Phú Lộc, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang thu giữ bên trong túi áo khoác bên trái đang mặc có 01 (một) gói ni lông chứa tinh thể rắn màu trắng, kích thước khoảng 4x3,5cm được niêm phong ký hiệu G1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Lâm T tại nhà trọ số 03 ở số 95 đường K, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng không thu giữ được đồ vật gì thêm. (Bút lục 23-24) Qua xét nghiệm chất ma túy, Trần Lâm T dương tính với chất ma túy, Đặng Thị Nhã T âm tính với ma túy.

*Tại Bản Kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: “Tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói ni lông niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể: mẫu G1: 2,312 gam”.

* Tang vật tạm giữ của Trần Lâm T:

- 01 gói ni lông màu trắng kích thước khoảng 4x3.5cm bên trong tinh thể rắn màu trắng được niêm phong kí hiệu G1 được đưa đi giám định. Hiện còn lại mẫu vật giám định hoàn trả trong một bì niêm phong kỹ hiệu G1 có số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443 của Lâm T sử dụng liên lạc mua ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327 của Lâm T dùng liên lạc cá nhân.

- 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T.

- 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền.

- 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng, là tài sản của Lâm T, được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1 .

- 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc M khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn.

- 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và số tiền 3.040.000 đồng là tài sản của Trần Lâm T.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng T (SN 1967, trú: Tổ 41, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng). Năm 2010, ông T bán xe này cho bà Nguyễn Thị N (SN 1964, Trú: 149 Trần X L, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng). Đến năm 2018, bà N bán xe này lại cho bà Nguyễn Thị H (SN 1975, trú tổ 75 phường An Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, là mẹ ruột của Lâm T) nhưng chữa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phương tiện. Bà H cho Lâm T mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc Lâm T sử dụng xe đi mua ma túy.

Các vật chứng nêu trên chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 30 tháng 05 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Trần Lâm T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái chất ma túy", áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Lâm T từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị hội đồng xét xử, áp dụng khoản 5 Điều 249, xử phạt bị cáo Trần Lâm T số tiền từ 5.000.000 đồng – 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443 của Lâm T sử dụng liên lạc mua ma túy.

- Trả cho Trần Lâm T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327 của Lâm T dùng liên lạc cá nhân; 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T. 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền; 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49 cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng, là tài sản của Lâm T, được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1; 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc M khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và số tiền 3.040.000 đồng là tài sản của Lâm T nhưng cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho bà Nguyễn Thị H 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng T.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng).

Đối với người thanh niên tên Ki bán ma túy cho Thanh hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Đặng Thị Nhã T là người đi cùng Lâm T nhưng không biết việc Lâm T mua ma túy cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý là có căn cứ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Lâm T cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trước số nhà 95 đường Ngô Gia Khảm, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Trần Lâm T đã có hành vi tàng trữ 2,312 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng Phú Lộc, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 71/CT-VKSTK ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Trần Lâm T có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Trần Lâm T đã liên hệ một người thành niên tên Ki (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma tuý loại Methamphetamine với giá 2.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma tuý, gây khó khăn cho công tác kiểm soát chất ma tuý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Lâm T không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có ông, bà ngoại là người có công với cách mạng. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 249 xử phạt bị cáo Trần Lâm T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng gồm:

- Đối với ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443, Trần Lâm T sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327; 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T; 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền; 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49 cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1; 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc Mai khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và số tiền 3.040.000 đồng. Các tang vật tạm giữ trên là tài sản cá nhân của Trần Lâm T, không liên quan đến việc tàng trữ ma tuý đến cần trả lại cho bị cáo nhưng cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng T. Năm 2010, ông Thu bán xe này cho bà Nguyễn Thị N (SN 1964, Trú: 149 Trần X L, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng). Đến năm 2018, bà N bán xe này lại cho bà Nguyễn Thị H (SN 1975, trú tổ 75 phường An Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, là mẹ ruột của Lâm T) nhưng chữa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phương tiện. Bà H cho Lâm T mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc Lâm T sử dụng xe đi mua ma túy nên cần trả lại cho bà Nguyển Thị H.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023 và Biên lại thu tiền số 0000795 ngày 31/5/2023.).

Đối với người thanh niên tên Ki là người đã mua ma túy cho Trần Lâm T nhưng không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với Đặng Thị Nhã T là người đi cùng Trầm Lâm T nhưng không biết việc Lâm T mua ma túy cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý là có căn cứ.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trần Lâm T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Trần Lâm T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 02 năm 2023.

2.Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Lâm T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443 của Lâm T sử dụng liên lạc mua ma túy.

- Trả cho Trần Lâm T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327 của Lâm T dùng liên lạc cá nhân; 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T. - 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền; 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49 cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng, là tài sản của Lâm T, được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1; 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc M khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và 3.040.000 đồng là tài sản của Lâm T nhưng cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho bà Nguyễn Thị H 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng T.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023 và Biên lại thu tiền số 0000795 ngày 31/5/2023.).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016, bị cáo Trần Lâm T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận hoặc niêm yết (trích sao) bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- VKSND quận Thanh Khê;

- VKSND TP Đà Nẵng;

- Chi cục THADS quận Thanh Khê;

- Nhà tạm giữ CA Q. Thanh Khê;

- Trại tạm giam CA TP Đà Nẵng;

Nguyễn Thị Lan Anh

- Cơ quan CSĐT CA quận Thanh Khê;

- Cơ quan THAHS CA quận Thanh Khê;

- TAND TP Đà Nẵng;

- Lưu Hồ sơ. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Thanh Khê;

- VKSND TP Đà Nẵng;

- Chi cục THADS quận Thanh Khê;

- Nhà tạm giữ CA Q. Thanh Khê;

- Trại tạm giam CA TP Đà Nẵng;

- Cơ quan CSĐT CA quận Thanh Khê;

- Cơ quan THAHS CA quận Thanh Khê;

- TAND TP Đà Nẵng;

- Lưu Hồ sơ.

Nguyễn Thị Lan Anh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2023, Trần Lâm T sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0775426443 gọi điện qua mạng xã hội Facebook Mesenger hỏi mua của một người thanh niên tên Ki (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) ma tuý đá thì Ki đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà Ki, gần khu vực bến xe Đức Long, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Lâm T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển kiểm soát 43X6-9420 chở bạn gái là Đặng Thị Nhã T (Sinh năm 1993, trú K111/4 đường Lê Độ, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng) và nói vào nhà người anh chơi. Khi đến nhà Ki, Đặng Thị Nhã T đứng đợi phía dưới còn Trần Lâm T đi lên tầng gặp Ki để mua 01(một) gói ma túy đá với giá 2.000.000 đồng nhưng chưa trả tiền, Trần Lâm T cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Trần Lâm T chở Đặng Thị Nhã T về trước nhà trọ ở số 95 đường Ngô Gia Khảm, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê thì bị lực lượng phòng chống ma tuý và tội phạm Đồn Biên phòng Phú Lộc, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang thu giữ bên trong túi áo khoác bên trái đang mặc có 01 (một) gói ni lông chứa tinh thể rắn màu trắng, kích thước khoảng 4x3,5cm được niêm phong ký hiệu G1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Lâm T tại nhà trọ số 03 ở số 95 đường Ngô Gia Khảm, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng không thu giữ được đồ vật gì thêm. (Bút lục 23-24) Thanh dương tính với chất ma

Qua xét nghiệm chất ma túy, Trần Lâm túy, Đặng Thị Nhã T âm tính với ma túy. (Bút lục 57-58)

*Tại Bản Kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: “Tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói ni lông niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể: mẫu G1: 2,312 gam” (Bút lục 30)

* Tang vật tạm giữ của Trần Lâm T:

- 01 gói ni lông màu trắng kích thước khoảng 4x3.5cm bên trong tinh thể rắn màu trắng được niêm phong kí hiệu G1 được đưa đi giám định. Hiện còn lại mẫu vật giám định hoàn trả trong một bì niêm phong kỹ hiệu G1 có số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443 của Lâm T sử dụng liên lạc mua ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327 của Lâm T dùng liên lạc cá nhân.

- 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T. - 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền.

- 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng, là tài sản của Lâm T, được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1 .

- 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc Mai khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn. - 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và 3.040.000 đồng là tài sản của Lâm T.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng Thu (SN 1967, trú: Tổ 41, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng). Năm 2010, ông Thu bán xe này cho bà Nguyễn Thị Như (SN 1964, Trú: 149 Trần Xuân Lê, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng). Đến năm 2018, bà Như bán xe này lại cho bà Nguyễn Thị Hải (SN 1975, trú tổ 75 phường An Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, là mẹ ruột của Lâm T) nhưng chữa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phương tiện. Bà Hải cho Lâm T mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc Lâm T sử dụng xe đi mua ma túy.

Các vật chứng nêu trên chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 30 tháng 05 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Trần Lâm T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái chất ma túy", áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Lâm T từ ………….. năm ………… tháng đến ……………… năm………………… tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443 của Lâm T sử dụng liên lạc mua ma túy.

- Trả cho Trần Lâm T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327 của Lâm T dùng liên lạc cá nhân; 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T. - 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền; 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49 cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng, là tài sản của Lâm T, được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1; 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc Mai khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và 3.040.000 đồng là tài sản của Lâm T.

- Trả cho bà Nguyễn Thị Hải 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng Thu.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng).

Đối với người thanh niên tên Ki bán ma túy cho Thanh hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Đặng Thị Nhã T là người đi cùng Lâm T nhưng không biết việc Lâm T mua ma túy cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý là có căn cứ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Lâm T cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trước số nhà 95 đường Ngô Gia Khảm, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Trần Lâm T đã có hành vi tàng trữ 2,312 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng Phú Lộc, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 71/CT-VKSTK ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Trần Lâm T có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử xử vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Trần Lâm T đã liên hệ một người thành niên tên Ki (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma tuý loại Methamphetamine với giá 2.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma tuý, gây khó khăn cho công tác kiểm soát chất ma tuý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Lâm T không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có ông, bà ngoại là người có công với cách mạng. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 249 xử phạt bị cáo Trần Lâm T số tiền ……………………………….

Về xử lý vật chứng gồm:

- Đối với ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443, Trần Lâm T sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327; 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T. 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền; 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49 cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1; 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc Mai khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và 3.040.000 đồng. Các tang vật tạm giữ trên là tài sản cá nhân của Trần Lâm T, không liên quan đến việc tàng trữ ma tuý đến cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng Thu. Năm 2010, ông Thu bán xe này cho bà Nguyễn Thị Như (SN 1964, Trú: 149 Trần Xuân Lê, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng). Đến năm 2018, bà Như bán xe này lại cho bà Nguyễn Thị Hải (SN 1975, trú tổ 75 phường An Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, là mẹ ruột của Lâm T) nhưng chữa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu phương tiện. Bà Hải cho Lâm T mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc Lâm T sử dụng xe đi mua ma túy nê cần trả lại cho bà Nguyển Thị Hải.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023 và Biên lại thu tiền số 0000795 ngày 31/5/2023.).

Đối với người thanh niên tên Ki là người đã mua ma túy cho Trần Lâm T nhưng không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với Đặng Thị Nhã T là người đi cùng Trầm Lâm T nhưng không biết việc Lâm T mua ma túy cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý là có căn cứ.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trần Lâm T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Lâm T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo …………….Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 02 năm 2023.

2. Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bổ sung: Bị cáo Trần Lâm T số tiền …………………………………

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 120/KL-KTHS ngày 17/02/2023, đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số imei 353110104557855, gắn sim số 0775426443 của Lâm T sử dụng liên lạc mua ma túy.

- Trả cho Trần Lâm T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng số imei 354185106120711, gắn sim số 0906591327 của Lâm T dùng liên lạc cá nhân; 01 căn cước công dân số 048095002431 mang tên Trần Lâm T. - 03 thẻ ATM (Techcombank, VPbank, Vietcombank) đều mang tên Trần Lâm T nhưng trong tài khoản không có tiền; 01 sợi dây chuyền đeo cổ kim loại màu vàng, chiều dài 49 cm và 01 nhẫn đeo tay kim loại màu trắng bạc, có đính kèm 01 viên đá màu trắng, là tài sản của Lâm T, được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu N1; 01 giấy bảo đảm của tiệm vàng Ngọc Mai khi mua sợi dây chuyền trên; 01 giấy hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản do Lâm T cầm cố đã hết hạn; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng hiệu Movado và 3.040.000 đồng là tài sản của Lâm T.

- Trả cho bà Nguyễn Thị Hải 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen trắng, số khung 789490, số máy 5397442, BKS 43X6 - 9420 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hùng Thu.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023 và Biên lại thu tiền số 0000795 ngày 31/5/2023.).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016, bị cáo Trần Lâm T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ