vanban.org

Bản án 86/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định…

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Phong P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Phong P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HS-ST
Ngày 28-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Hồng

Bà Phạm Thị Thao

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lương Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an thành phố Hải Phòng đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Phong P, sinh ngày 08 tháng 5 năm 19X tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 3/X L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Quế H và bà Lưu Thị Kh; bị cáo có vợ: Bùi Thị Thu H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 02/4/2023; tạm giam ngày 05/4/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 ngày 02/4/2023, P nảy sinh ý định mua ma túy đá về sử dụng cho bản thân. P điều khiển xe ô tô BKS 15C-265.73 đi từ nhà đến khu vực Cầu Rào 1 gặp và hỏi mua của một người phụ nữ tên D (không rõ lai lịch địa chỉ) 500.000 đồng ma túy đá được 01 gói nilon kích thước khoảng 2,5x3cm trong chứa chất tinh thể màu trắng. Mua được ma túy, P cất giấu vào trong cốp cạnh hộp số xe P đang điều khiển rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, khi P đi đến trước cửa số nhà 225C đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng thì lúc này Công an quận N, Hải Phòng kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ 01 gói nilon kích thước khoảng 2,5x3cm trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ trong cốp cạnh hộp số xe ô tô của Đỗ Phong P đang điều khiển và 01 xe ôtô BKS 15C-265.73.

Tại bản kết luận giám định số 302/KL-KTHS(MT) ngày 05/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,28 gam, là loại: Methamphetamine.

Tiến hành khám xét nơi ở của P, không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Xét nghiệm nhanh nước tiểu của Đỗ Phong P cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng.

Tại Bản Cáo trạng số 91/CT-VKSNQ ngày 08/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Phong P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Phong P khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đỗ Phong P với mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng vào 20 giờ 30 Pt ngày 02/4/2023, tại khu vực trước cửa nhà số 225C Lạch Tray, Đồng Quốc Bình, N, Hải Phòng, Đỗ Phong P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,28 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có cậu ruột là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

Đối với 01 xe ôtô tải nhãn hiệu Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-265.73, qua xác minh thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty Cổ phần thương mại và vận tải biển SNT (địa chỉ trụ sở: 32 An Đà Nội, Đằng Giang, N, Hải Phòng). Người đại diện hợp pháp của Công ty ông Nguyễn Đức Cường trình bày ngày 02/4/2023 Công ty có giao xe trên cho P là nhân viên công ty đi công tác tại Quảng Ninh. Công ty không biết và không đồng ý cho P sử dụng xe để đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N đã trả lại xe ô tô trên cho đại diện hợp pháp của Công ty nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ tên Dung bán ma túy cho bị cáo ở khu vực Cầu Rào 1, hiện chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ, khi nào xác minh làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Phong P 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 02/4/2023.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Phong P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Đỗ Phong P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ