- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Đức T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày 19-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Luân Văn Tuân;
Bà Nông Thị Yêu;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
84/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 83/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nông Đức T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 03 tháng 5 năm 2004 tại
tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã
T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12;
dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nông Viết T (sinh năm 1972) và bà Hoàng Thị P (sinh năm 1970); vợ, con:
Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý kỷ
luật, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ từ ngày 13/5/2023, tạm giam
từ ngày 19/5/2023 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nông Thị O, sinh
năm 1995. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lương Văn N; sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn P,
xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 13/5/2023, Nông Đức T một mình điều khiển xe mô
tô nhãn hiệu YJ, biển kiểm soát 12B1-10xxx đi từ nhà tại thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn với mục đích mua ma tuý về sử dụng. Đến khu vực M thì Nông Đức T gặp một nam thanh niên khoảng 20 – 25 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 300.000 đồng tiền ma tuý được 01 gói nilon bên trong có 03 gói giấy màu trắng có kẻ ô ly, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine. Nông Đức T cất gói ma tuý vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người. Khoảng 20 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực G thuộc thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Văn Lãng và Đồn Biên phòng N kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên, 01 xe mô tô biển kiểm soát 12B1-10xxx và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô.
Tại Kết luận giám định số 559/KL-KTHS ngày 18/5/2023 của Phòng Kỹ
thuật Hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,119 gam (đã trừ bì)”.
Tại cơ quan điều tra, anh Lương Văn N khai được chứng kiến việc bắt người
phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo đúng quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Đức T thành khẩn khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nông Thị O và bị cáo khai, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-10xxx là của chị Nông Thị O, việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy chị Nông Thị O không biết. Chị Nông Thị O đã nhận lại chiếc xe mô tô và không có ý kiến gì.
Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 22/8/2023 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề
nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nông Đức T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu được sau giám định và các vỏ bao gói. Do cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và giấy tờ xe cho chị Nông Thị O là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định pháp luật nên không đề nghị xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau
cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại
cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác
và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/5/2023, bị cáo Nông Đức T đã có
hành vi tàng trữ trái phép 0,119 gam chất ma túy Heroine với mục đích để sử
dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ
độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội,
gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra
các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách
nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy gây ảnh hưởng giống nòi, suy
kiệt kinh tế; nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp
luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố ý thực hiện.
Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nông Đức T
phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều
249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn
Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà,
bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được
hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị
cáo được hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa
bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn
định, không sở hữu tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với bị cáo.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải xử
phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có
tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện
Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo do không xác định được
họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Xét thấy, chất ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ bao gói dùng để gói ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-10xxx và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 006445 của chị Nông Thị O, do chị Nông Thị O không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nông Thị O là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền
kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm
a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331;
Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh
Tuyên bố bị cáo Nông Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt
Xử phạt bị cáo Nông Đức T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 13/5/2023).
3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư niêm phong ma túy, đã qua giám
định. Mặt trước ghi chữ viết tay “QT Nông Đức T”, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, Bùi Anh T, đóng dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Mặt sau có chữ ký cùng tên của Nông Đức T, Lương Văn N, Hứa Đức T, Lý Đức A, đóng dấu Công an xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,102 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng
ngày 25/8/2023 giữa Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh
Lạng Sơn).
4. Án phí
Bị cáo Nông Đức T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình
sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/9/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Văn Lãng; - CQĐT Công an huyện Văn Lãng; - Nhà tạm giữ Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Bị cáo; người có QL,NVLQ; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |