- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Y - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Y phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN T TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày 29-8 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hòa và Ông Lò Văn Y
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 18/8/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Y; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 2004; Nơi sinh: huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Lò Văn V, đã chết và con bà Lò Thị L, sinh năm 1984; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ hồi 21 giờ 30 phút ngày 14/4/2023, đến ngày 23/4/2023 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đèo Văn B, sinh năm 2005; địa chỉ: bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 14/4/2023 Lò Văn Y điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-196.30 đi từ nhà tại bản C, thị trấn T huyện T lên Tổ dân phố 3, thị trấn T, huyện T tìm mua Heroin để sử dụng. Khi đi đến đồi chè thuộc tổ dân phố 3, thị trấn T, Y gặp và hỏi mua được 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroin, Y cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Đến 18 giờ 40 phút cùng ngày trên dường về thuộc tổ dân phố 3, thị trấn T thì Lò Văn Y bị Công an thị trấn T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ ở túi quần bên phải đang mặc của Y 01 gói Heroin có khối lượng 0,11 gam được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng, mục đích để sử dụng và tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-196.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng, xám, số khung: 3229EY032584, số máy: JA32E0032617, xe đã qua sử dụng.
Ngày 14/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 35/KL-TCGĐ ngày 14/4/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn Y có khối lượng là 0,11 gam, đã lấy toàn bộ 0,11 gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 468/KL-KTHS ngày 18/4/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy.
Bản cáo trạng số 70/CT-VKS-TU ngày 04/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Lò Văn Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 66/KLĐT ngày 23/7/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 25B1-196.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng, xám, số khung: 3229EY032584, số máy: JA32E0032617, xe đã qua sử dụng do anh cho bị cáo mượn nhưng không biết việc bị cáo dùng vào việc đi mua ma túy về sử dụng.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 18 giờ 40 phút, ngày 14/4/2023, tại tổ dân phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn Y đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,11 gam được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn T, huyện T phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Khi bị công an phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, học đến lớp 7 nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, nguồn thu nhập không ổn định, xác minh tài sản bị cáo không có tài sản gì đáng giá. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
0,11 gam Heroin đã gửi toàn bộ đi giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
01 mảnh giấy bạc màu trắng đây là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-196.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng, xám, số khung: 3229EY032584, số máy: JA32E0032617, xe đã qua sử dụng thu giữ của bị cao nhưng do bị cáo mượn của anh Đèo Văn B và anh B không biết việc bị cáo sử dụng đi mua ma túy về sử dụng nên cần trả lại cho anh Đèo Văn B theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc 0,11 gam Heroin, bị cáo Lò Văn Y khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại đồi chè thuộc tổ dân phố 3, thị trấn T, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Đèo Văn B là chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-196.30 đã cho Lò Văn Y mượn để sử dụng, việc Y điều khiển chiếc xe này đi mua và tàng trữ Heroin thì B không biết, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Đèo Văn B là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nhưng là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Y phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo 01(Một) năm tù, trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ, còn lại 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì công văn của Công an huyện T, tỉnh Lai Châu bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
Trả lại cho anh Đèo Văn B, sinh năm 2005, trú tại bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-196.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng, xám, số khung: 3229EY032584, số máy: JA32E0032617, xe đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo B bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 11/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện T).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện T; - Chi Cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |