vanban.org

Bản án 86/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Lê Hiền Q 13 (mười ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; 1. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09-Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần Nam, của ông Trần Quang Toàn-cán bộ Công an xã Liên Hiệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Lê Hiền Q 13 (mười ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HS-ST
Ngày 25- 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Oanh và bà Đỗ Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thu Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Hiền Q, sinh năm 1991 tại xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Thôn 6, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hiền Đề và bà Đỗ Thị Hồng; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/7/2016, Công an huyện Phúc Thọ ra Quyết định xử phạt tiền về hành vi đánh nhau; Quyết định số 43 ngày 25/3/2019, Công an huyện Phúc Thọ xử phạt tiền về hành vi đánh bạc và sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 97 ngày 10/6/2020, Công an huyện Phúc Thọ ra Quyết định xử phạt tiền về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến nay. “có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Sỹ C, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 9, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00’ ngày 02/4/2023, Công an xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ tuần tra kiểm soát tại đường tỉnh lộ 421 thuộc thôn 10, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, phát hiện Lê Hiền Q ngồi sau xe máy do Đỗ Sỹ C điều khiển, cả hai đều không đội mũ bảo hiểm. Công an xã Liên Hiệp yêu cầu các đối tượng dừng xe và kiểm tra hành chính. Q đang cầm ma túy trong tay nên đã buông gói ma tuý xuống đường thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng và tài sản thu giữ, gồm:

Thu giữ của Lê Hiền Q: 01 (một) gói nilon màu trắng có kích thước 2x2cm, bên trong chứa 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng và tinh thể màu trắng và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám đã cũ.

Thu giữ của Đỗ Sỹ C: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng đã cũ và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29T2-012.18.

Cùng ngày, Công an xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của Lê Hiền Q và Đỗ Sỹ C. Kết quả: Lê Hiền Q dương tính với chất ma túy, còn Đỗ Sỹ C âm tính với chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 2083/KL-KTHS, ngày 10/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,213 gam; 04 (bốn) viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,408gam. Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine thu giữ của Lê Hiền Q là 0,621gam.

Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 14/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo Lê Hiền Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Hiền Q 12-15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai: Lê Hiền Q là người nghiện ma túy từ năm 2019 đến nay. Khoảng 17 giờ ngày 02/4/2023, Q cùng anh Nguyễn Sỹ C uống bia ở quán thuộc thôn 6, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ. Uống bia xong, Q nhờ anh C chở xe máy về nhà. Trên đường, Q muốn sử dụng ma tuý nên gọi điện thoại cho người đàn ông tên Hùng (ở thôn Phúc Đức, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội) hỏi mua ma tuý (Q lưu số điện thoại 0982.977.235 của người này trong danh bạ điện thoại là “Gió Ret”). Q nhắn tin vào số điện thoại của người này với nội dung “Em, 4 ma 2 nc ck 400 đua 200 tien mất” (có nghĩa là muốn mua 04 viên ma tuý “ngựa” và 200.000đ tiền ma tuý “đá”, thanh toán bằng chuyển khoản 400.000đ và đưa tiền mặt 200.000đ). Do Q chỉ có 200.000đ nên Q nói với C: Cho em xin 400.000đ, không nói xin tiền để làm gì và bảo C chuyển tiền vào số tài khoản 19022798879019 của Ngân hàng Tecombank, Q lưu trong danh bạ điện thoại là “Tk Ông Anh”. C chuyển khoản xong, Q nhờ C chở đi lấy tiền và đổi Q lái xe chở C (vì C không biết Q đi lấy tiền ở đâu). Q đi đến khu vực thôn Phúc Đức, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội thì dừng xe và bảo C ngồi ở ngoài xe đợi, Q đi bộ vào cửa nhà anh Hùng, cách vị trí C chờ khoảng 100m. Q nói qua cửa cổng “em là Q”, lúc đó có người đang ở sẵn bên trong, không nói gì. Q đưa vào bên trong ô cửa nhỏ tờ tiền 200.000đồng, người ở bên trong cầm tiền và đưa lại cho Q 01 gói nhỏ nilon màu trắng, kích thước khoảng 2x2cm, bên trong chứa 04 viên ma tuý “ngựa” màu hồng và tinh thể ma tuý “đá”. Q cầm gói ma tuý và quay ra chỗ C đang đứng đợi. Q bảo C chở về và không nói gì thêm. Khi cả 2 đi đến đoạn đường đê thuộc thôn 10, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ thì bị bắt quả tang.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với biên bản phạm tội quả tang và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19h 20 phút, ngày 02/4/2023, Lê Hiền Q có hành vi cất giấu 0,621gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại đường tỉnh lộ 421 thuộc thôn 10, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự; Nghị định của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và các văn bản hướng dẫn, hành vi đó của Lê Hiền Q đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Ma túy là nguyên nhân làm cho người sử dụng suy kiệt về thể lực, suy giảm về trí lực, suy đồi về đạo đức, là nguyên nhân gieo rắc nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, đặc biệt là căn bệnh AIDS mà toàn xã hội đang phải phòng chống, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt hình phạt bổ sung.

. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09-Công an thành phố Hà Nội, bên trong là chất ma túy, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần Nam, của ông Trần Quang Toàn-cán bộ Công an xã Liên Hiệp và của Lê Hiền Q và Đỗ Sỹ C nên tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám đã cũ (bị nứt vỡ ở góc trên màn hình) thu của Lê Hiền Q là tài sản của Q sử dụng để mua trái phép chất ma túy để sử dụng nên tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước; đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng đã cũ (bị rạn nứt ở mặt sau điện thoại) và 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Wave màu trắng đã cũ, biển kiểm soát: 29T2-012.18 thu của Đỗ Sỹ C là tài sản của C là. Q nói nhờ C chở đi lấy tiền nên C không biết Q đi mua ma túy. Q nhờ C chuyển tiền vào tài khoản số 19022798879019 nhưng không nói để làm gì nên C không biết Q nhờ chuyển tiền để mua ma túy. Vì vậy, trả lại cho C chiếc điện thoại và chiếc xe máy này.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về nguồn gốc số ma tuý: Q khai mua ma túy của người tên Hùng chưa gặp bao giờ. Q đã từng mua ma tuý của người này (chuyền khoản hoặc đưa tiền và đưa ma túy qua ô nhỏ cửa cổng) nên Q có số điện thoại và tài khoản của người này. Kết quả điều tra, Hùng khai không quen biết và chưa gặp Q và C bao giờ. Từ ngày 01/03/2023 đến ngày 03/03/2023, Hùng cùng vợ (tên Thúy) đi du lịch nên không gặp Q và C, không bán ma túy cho Q. Trước đây, Hùng có đăng ký chính chủ và sử dụng số thuê bao điện thoại 0982.977.235. Tuy nhiên khoảng tháng 3/2023, Hùng bị mất điện thoại có lắp sim số 0982.977.235 nên Hùng không còn sử dụng số điện thoại này nữa. Hiện ai đang sử dụng số điện thoại 0982.977.235 thì Hùng không biết. Hiện tại Hùng chỉ sử dụng duy nhất một số điện thoại là 0915.903.903. Hùng không sử dụng tài khoản ngân hàng nào đứng tên Hùng. Hùng có cửa hàng cầm đồ nên thỉnh thoảng có người chuyển tiền trả nợ thì bảo chuyển vào tài khoản ngân hàng Techcombank số 19022798879019 mang tên PHAN THI THUY là của vợ Hùng tên Phan Thị Thúy. 02 giao dịch chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng Vietcombank số 7049988688624 ngày 30/3/2023 và từ tài khoản ngân hàng Techcombank số 1903572931017 ngày 02/4/2023 chuyển số tiền 400.000đ thì Hùng không biết là của ai, chuyển để làm gì. Xét thấy, chỉ có lời khai của Q khai mua ma túy của Hùng nên không đủ căn cứ xác định Hùng là người bán ma túy cho Q ngày 02/4/2023, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Hùng trong vụ án này.

. Đối với Đỗ Sỹ C là người đi cùng Q. Q nói với C là chở đi đòi tiền. Q xin tiền của C 400.000đ và bảo chuyển vào số tài khoản Q đọc, không nói xin tiền để làm gì. Trước đó thỉnh thoảng Q cũng xin tiền C để mua quần áo nên C đồng ý cho tiền và chuyển khoản vào số tài khoản Q đã đọc. C không biết Q xin tiền để mua ma túy và đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã nhắc nhở đối với C, không đề cập xử lý trong vụ án này.

. Đối với chị Phan Thị Thúy là chủ tài khoản số 19022798879019 ngân hàng Techcombank. Nhà chị Thúy có cửa hàng cầm đồ nên chồng chị Thúy là Đào Mạnh Hùng cũng sử dụng số tài khoản trên để khách trả tiền. Chị Thúy không quen biết gì với Q và C. 02 giao dịch chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng Vietcombank số 7049988688624 ngày 30/3/2023 và từ tài khoản ngân hàng Techcombank số 1903572931017 ngày 02/4/2023 chuyển số tiền 400.000đ đến số tài khoản 19022798879019 của chị Thúy thì chị Thúy không biết của ai, chuyển đến để làm gì. Vì vậy không có căn cứ để xem xét và xử lý chị Thuý trong vụ án này.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê Hiền Q 13 (mười ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 03/4/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09-Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần Nam, của ông Trần Quang Toàn-cán bộ Công an xã Liên Hiệp, của Lê Hiền Q và Đỗ Sỹ C.

2.2. Tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám đã cũ (bị nứt vỡ ở góc trên màn hình) thu của Lê Hiền Q.

2.3. Trả lại Đỗ Sỹ C 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng đã cũ (bị rạn nứt ở mặt sau điện thoại) và 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Wave màu trắng đã cũ, biển kiểm soát: 29T2-012.18 thu của Đỗ Sỹ C.

(Theo biên bản giao nhận ngày 20/9/2023)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án

Bị cáo Lê Hiền Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ