- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 86/2023/HS-PT Ngày: 03/04/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng Ông Phạm Minh Tùng - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. - Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên. Trong ngày 03 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 59/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Tiến D. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2023/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò. Tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp gồm có: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa. Tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) gồm có: 1. Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tiến D, sinh năm 1976, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 80/47B, đường T, phường A, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, cư trú: ấp Bình Hoà, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trương Kim T; Chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 15/5/2006, bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 11 năm từ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 18 năm từ. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 24/10/2018; Tạm giữ ngày 06/7/2022; Tạm giam ngày 15/7/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần. 2. Những người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Phú L1 - Cấp bậc: Hạ sỹ. Ông Lê Minh T1 - Cấp bậc: Hạ sỹ.
Đều là cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt). Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 02/7/2022, bị cáo Nguyễn Tiến D đến cầu C thuộc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang gặp một người tên Tuấn K (không rõ họ tên và địa chỉ) mua 01 bịch ma tuý lớn với giá 4.000.000 đồng đem về nhà chia ra thành nhiều bịch nhỏ cất giữ tại nhà của bị cáo để nhằm mục đích bán lại cho những người có nhu cầu để kiếm lời. Cụ thể như sau: - Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 05/7/2022, Nguyễn Minh K1, ngụ khóm B, thị trấn L, huyện L có nhu cầu sử dụng ma tuý nên K1 đã gọi điện thoại cho bị cáo D để hỏi mua 200.000 đồng mua túy thì bị cáo đồng ý và kêu K1 đến nhà của bị cáo tại ấp Bình Hoà, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để nhận ma tuý. Khoảng 30 phút sau, K1 điều khiển xe chở Nguyễn Văn N đến nhà bị cáo. Khi đến nhà N đứng ở ngoài lộ cách nhà bị cáo D khoảng 10m còn K1 đi vào nhà gặp bị cáo D, bị cáo đã giao cho K1 01 bịch ma tuý, Khôi nhận bích ma tuy rồi nói cho thiếu 200.000đ hôm sau trả thì bị cáo D đồng ý. K1 đem bịch ma tuy về cùng với N sử dụng hết. - Lần thứ hai: Vào khoảng 14 giờ, ngày 06/7/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Minh K1 và Nguyễn Văn N hùn mỗi người 200.000đ để mua ma tuy sử dụng. K1 diện thoại cho bị cáo D để hỏi mua 200.000đ ma tuý thì bị cáo D đồng ý và nói K1 đến nhà bị cáo để nhận. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, K1 điều khiển xe gắn máy chở N đến nhà bị cáo D. Khi đến nhà, N đứng ở ngoài đường còn K1 đi vào nhà gặp bị cáo D, K1 đưa cho bị cáo Dũng 200.000đ, bị cáo D chỉ K1 đến chỗ góc cột nhà phía bên trái lấy bịch ma túy, K1 đến lấy bịch ma túy cầm trong lòng bàn tay trái thì bị Công an tỉnh Đ phối hợp với Công an huyện L bắt quả tang và thu giữ: - Thu của Nguyễn Minh K1 01 bịch nylong hàn kín chứa những hạt tinh thể rắn được niêm phong theo quy định, ký hiệu A. - Thu của bị cáo Nguyễn Tiến D gồm: + Số tiền 200.000đ được niêm phong ký hiệu 1. D khai đây là số tiền vừa bán ma tuý cho Nguyễn Minh K1 + 50 bịch nylong dạng nắp kẹp có viền đỏ bên trong có chứa những hạt tinh thể rắn được niên phong ký hiệu 2. Nguyễn Tiến D khai nhận số lượng ma tuý này tàng trữ với mục đích bán lại kiếm lời. + 01 điện thoại di động (01 hiệu Iphone, 01 hiệu S) đã qua sử dụng. + 01 bộ dụng cụ tự chế dùng vào việc sử dụng trái phép chấp ma tuy, 20 bịch ny long hàn kín ba cạnh, 01 bật lửa, 02 ống hút cắt nhọn một đầu, 01 cây kéo bằng kim loại.
Tại các Kết luận giám định số 570/KL-KTHS ngày 08/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ xác định: Tinh thể rắn chứa trong 50 bịch nylon (01 bịch dạng nắp kẹp có viền màu đỏ và 49 bịch hàn kín), được niêm phong trong cùng bao thư ghi kí hiệu 2 gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 14,393 gam, loại Methamphetamine. Tại các Kết luận giám định số 571/KL-KTHS Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, được niêm phong trong bao thư màu trắng ghi kí hiệu A gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,053gam, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra xác định: - Điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo D không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo. - Điện thoại di động hiện Iphone và số tiền 200.000đ thu giữ của bị cáo D là tiền và phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội nên tích thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 02 mẫu vật còn lại sau giám định đã được niêm phong, 01 bộ dụng cụ tự chế dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuy, 20 bịch nylong hàn kín ba cạnh, 01 bật lửa, 02 ống hút cắt nhọn 01 đầu, 01 cây kéo bằng kim loại là công cụ phạm tôi và vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ. Qua điều tra xác định khi bị cáo D bán ma túy cho Nguyễn Minh K1 thì có Nguyễn Văn N đi cùng và đậu xe cách đó khoảng 10m, nhưng bị cáo chỉ điện thoại và trực tiếp giao dịch mua bán ma tuý với Nguyễn Minh K1, bị cáo không bán ma túy cho Nguyễn Văn N, còn việc N và K1 hùn tiền mua ma tuý như thế nào thì D không biết nên không xử lý bị cáo về việc bán ma túy cho nhiều người. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tiến D khai mua ma tuy của một người tên Tuấn K nhưng không biết họ tên và địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2023/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, i, q khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 06/7//2022. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 10 tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Tiến D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp
tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Tiến D không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định số: 570 và 571/KL-KTHS cùng ngày 08/7/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, vật chứng và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Do muốn có tài tiêu xài nên bị cáo đã mua ma túy của một người không rõ tên, địa chỉ ở tỉnh An Giang về chia nhỏ bán lại cho những người khác để kiếm lời thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. [2] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, … làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là để tư lợi cá nhân. Bị cáo là người đã có tiền án, từng bị xử phạt 18 năm tù về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, sau khi chấp hành án xong bị cáo không biết chí thú làm ăn lương thiện mà tiếp tục phạm tội và lần này, bị cáo lại có hành vi mua bán trái phép ma túy với tổng khối lượng ma túy bị bắt quả tang và thu giữ là 14,446gam loại M. [3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. [4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Tiến D là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tiến D. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến D. 2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7//2022. 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. 4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - Trại tạm giam CAT; - TAND huyện Lấp Vò (02 bản); - VKSND huyện Lấp Vò; Lê Khắc Thịnh - Chi cục THADS huyện Lấp Vò; - Cơ quan CSĐT CA huyện Lấp Vò; - Cơ quan THAHS CA huyện Lấp Vò; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) |