vanban.org

Bản án 86/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của anh Lý Thanh H.

Về hôn nhân: Cho anh Lý Thanh H được ly hôn chị Hà Thị Th. Về con chung: Giao cháu Lý Thị Kim Ng, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lý Khôi N, sinh ngày 17/12/2018 cho anh Lý Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Hà Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lý Thanh Hải ly hôn chị Hà Thị Thoa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của anh Lý Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 11 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chúc Thị Phương;

2. Bà Chu Đức Hoài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Thụy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02/10/2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/10/2023, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Lý Thanh H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn N N, xã N Kh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị đơn: Chị Hà Thị Th, sinh năm 1987.

Địa chỉ:

Đăng ký cứ trú: Thôn N N, xã N Kh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

Đang ở: Thôn Ch L, xã B C, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Cùng có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện anh Lý Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hà Thị Th quen biết nhau, tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, ngày 28/3/2011 đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc nhiều năm. Đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Th quan hệ ngoại tình. Sau nhiều lần tha thứ nhưng thị Thoa không thay đổi. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh xin ly hôn chị Th.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lý Thị Kim Ng, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lý Khôi N, sinh ngày 17/12/2018. Ly hôn anh nhận nuôi cả 02 con, không đề nghị chị Th cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có.

Anh đề nghị không hòa giải và giải quyết vắng mặt

Chị Hà Thị Th trình bày tại bản tự khai: Về quen biết, tự nguyện và đăng ký kết hôn, có con chung như anh H trình bày. Anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn không giải quyết được nên chị về nhà ở tỉnh Thanh Hóa sinh sống (Sống ly thân từ đó đến nay).

Về các con chung đang ở cùng bố. Ly hôn tôi tiếp tục để hai cháu ở cùng bố. Tôi sẽ tự cấp dưỡng theo khả năng (Đề nghị Tòa án không ghi vào quyết định ly hôn).

Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có.

Chị đề nghị giải quyết vắng mặt.

Tòa án tiến hành xác minh với Trưởng thôn N N, xã N Kh - ông Quan Văn Thoa cho biết: Anh Lý Thanh H và chị Hà Thị Th là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Cuộc sống anh chị xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do chị Thoa có quan hệ ngoại tình. Thôn đã đến hòa giải, chị ký cam kết nhưng vẫn tái phạm. Chi Thoa đã về quê ngoại từ giữa năm 2023, từ đó không thấy về thăm con. Anh H, chị Th có 02 con chung đang ở cùng anh H. Về tài sản chung và nợ chung anh H, chị Th có như thế nào thôn không rõ.

Cháu Lý Thị Kim Ng trình bày: Cháu không biết mâu thuẫn của bố mẹ cháu như thế nào. Hiện này mẹ cháu đang ở tỉnh Thanh Hóa. Cháu và em cháu đang ở với bố. Nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu muốn ở với bố.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 72 BLTTDS. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của BLTTDS.

Về hướng giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 28 của BLTTDS; căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý Thanh H. Tuyên xử cho anh Lý Thanh H được ly hôn chị Hà Thị Th.

Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cho anh Lý Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung sau ly hôn.

Về tài sản và nợ chung: Chị Th, anh H không có tài sản chung, không có nợ chung.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 147, 271, 273 của BLTTDS và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Anh Lý Thanh H phải chịu án phí ly hôn. Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Anh Lý Thanh H đã nộp các tài liệu: Trích lục kết hôn; Bản sao căn cước công dân anh H; Xác nhận thông tin về cư trú chị Th, anh H; Bản sao giấy khai sinh của các con.

Tòa án xác minh với Trưởng thôn N N, xã N Kh, lấy lời khai cháu Lý Thị Kim Ng.

Chị Hà Thị Th và anh Lý Thanh H thống nhất được với nhau về việc ly hôn và nuôi con nhưng chị Th không đến Tòa án để hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang nhận định:

Chị Hà Thị Th đăng ký cư trú tại thôn N N, xã N Kh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Anh Lý Thanh H khởi kiện ly hôn và tranh chấp về nuôi con. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang theo quy định của các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Na Hang đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Th không đến Tòa án theo thời gian của thông báo nên không hòa giải được. Anh H có đơn đề nghị không hòa giải do đó Tòa án không hòa giải vụ án.

Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Anh H và chị Th có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ Điều 207, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án.

Chị Hà Thị Th và anh Lý Thanh H kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N Kh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Thông qua lời khai của đương sự; kết qủa xác minh với Trưởng thôn, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hà Thị Th và anh Lý Thanh H đã trầm trọng, mâu thuẫn đã diễn ra trong một thời gian dài, cuộc sống chung đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh Lý Thanh H được ly hôn chị Hà Thị Th.

Quá trình chung sống chị Th và anh H có 02 con chung là cháu Lý Thị Kim Ng, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lý Khôi N, sinh ngày 17/12/2018. Anh H nhận nuôi cả 02 con, không đề nghị chị Th cấp dưỡng. Chị Th đề nghị để anh H trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét thấy các cháu đang ở cùng anh H, cháu Ng muốn tiếp tục ở cùng bố. Căn cứ các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao các cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung; có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung sau ly hôn.

Anh Lý Thanh H, chị Hà Thị Th không có tài sản chung và vay nợ chung nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.

Anh Lý Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/1016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Hà Thị Th và anh Lý Thanh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 207, 228, 235, 238, 266, 271, và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của anh Lý Thanh H.

1. Về hôn nhân: Cho anh Lý Thanh H được ly hôn chị Hà Thị Th.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Thị Kim Ng, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lý Khôi N, sinh ngày 17/12/2018 cho anh Lý Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Hà Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Lý Thanh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005110 ngày 28/9/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Anh H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị Th, anh Lý Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./ CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chúc Thị Phương Chu Đức Hoài

Phan Anh Thành

Cỡ chữ