vanban.org

Bản án 86/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N.

Về việc nuôi con chung: 1. Anh Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhựt A, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa anh T và chị N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986; Nơi cư trú: Khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 5 năm 2023 của nguyên đơn Nguyễn Văn T trình bày: Năm 2008, qua mai mối anh có quen biết với chị Nguyễn Thị N, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân. Được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới cho anh và chị N trong năm 2009, sau khi cưới cùng nhau về sống chung nhà với gia đình anh. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, sống chung không hợp, anh và chị N ở chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, cơm ai nấy ăn. Đến giữa năm 2014 vợ anh tự ý rời nhà bỏ đi, anh chị ly thân từ đó đến nay. Anh nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên anh yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Về con chung: Hai vợ chồng anh sống chung với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Nhựt A, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2010, cháu Nhựt A sống chung với anh từ nhỏ cho đến nay. Nay anh yêu cầu Tòa án cho anh được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Nguyễn Thị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 01 tháng 8 năm 2023 của bị đơn Nguyễn Thị N trình bày: Qua yêu cầu ly hôn của anh T, chị đồng ý. Về con chung, chị đồng ý để anh T nuôi Nguyễn Nhựt A. Về tài sản chung và nợ không có.

Tại bản khai ngày 02 tháng 6 năm 2023 của cháu Nguyễn Nhựt A trình bày: Con muốn ở với ba.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị N; Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Nhựt A, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2010 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N trình bày không có, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T và bị đơn chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn T đối với chị Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của anh Nguyễn Văn T thì cuộc sống của chị và anh Nguyễn Văn Nu không còn hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là sống chung không hợp, anh và chị N ở chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, cơm ai nấy ăn, anh và chị N đã không còn sống chung từ giữa năm 2014 cho đến nay và chị N cũng đồng ý ly hôn. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của anh T đối với chị N hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho anh T ly hôn với chị N.

Về việc nuôi con: Anh Nguyễn Văn T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Nhựt A, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2010 và chị N cũng đồng ý với yêu cầu của anh T, Hội đồng xét xử xét thấy, sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định của pháp luật và cháu Nhựt A cũng có nguyện vọng ở với ba, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Anh Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhựt A, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2010.

2.2. Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004372 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ