- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/DS-ST Ngày: 04-8-2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Khel.
2. Ông Hà Văn Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thuý Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2023/TLST-DS ngày 17/4/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-DS ngày 03/7/2023 giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Ngân hàng H.
Địa chỉ: Tòa nhà N đường H, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội;
* Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Kế T – Phó phòng tín dụng và chăm sóc thành viên Ngân hàng H - Chi nhánh S. Địa chỉ: Số A Quốc Lộ A, Phường B, Tp. S, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 228/TD-NHHT.ST ngày 22/5/2023) (có mặt).
– Bị đơn: Ông Trần Thanh G, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
– Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng H (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Kế T trình bày: Ngày 15/04/2015, ông Trần Thanh G có vay tiền của Ngân hàng H - Chi nhánh S với số tiền gốc là 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay số: 109.20/15/HĐTD, hình thức vay: Tín chấp trả từ lương hàng tháng, thời hạn vay 60 tháng (từ 15/04/2015 đến hết ngày 15/04/2020), lãi suất trên hợp đồng là 0,88%/ tháng, mục đích vay vốn: Tiêu dùng gia đình. Kể từ ngày vay cho đến nay ông Trần Thanh G đã trả được số tiền gốc là 12.574.300 đồng và trả lãi số tiền là 10.477.800 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi đã trả là 23.052.100 đồng. Số tiền còn nợ tính đến ngày 04/8/2023 vốn gốc là 77.425.700 đồng, lãi trong hạn là 40.435.572 đồng, lãi quá hạn là 24.644.987, tổng cộng 142.506.259 đồng. Hiện nay khoản vay của ông Trần Thanh Giang đã quá hạn và vi phạm các đều khoản theo hợp đồng đã ký kết.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trần Thanh G phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 04/8/2023 vốn gốc là 77.425.700 đồng, lãi trong hạn là 40.435.572 đồng, lãi quá hạn là 24.644.987, tổng cộng 142.506.259 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo quy định.
– Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Thanh G, nhưng ông G không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án cung cấp lời khai, không đến tham dự buổi hòa giải cũng như không đến phiên tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị đơn ông Trần Thanh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông G.
Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào ngày 15/4/2015 ông G có ký kết với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng số 109.20/15/HĐTD để vay số tiền là 90.000.000 đồng (bút lục 10), hình thức vay tín chấp trả từ lương hàng tháng, thời hạn vay 60 tháng (từ 15/04/2015 đến hết ngày 15/04/2020), lãi suất trên hợp đồng là 0,88%/ tháng. Mục đích vay vốn: Tiêu dùng gia đình. Ông G có ký Giấy nhận nợ ngày 15/4/2015 (bút lục 12). Kể từ ngày vay cho đến nay, ông G đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 12.574.300 đồng và trả lãi là 10.477.800 đồng, tổng số tiền gốc và lãi đã trả là 23.052.100 đồng. Số tiền còn nợ tính đến ngày 04/8/2023 vốn gốc là 77.425.700 đồng, lãi trong hạn là 40.435.572 đồng, lãi quá hạn là 24.644.987, tổng cộng 142.506.259 đồng.
Xét thấy, việc ông G không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán, là người có lỗi vi phạm hợp đồng, nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông G có nội dung Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông G trả số tiền vốn và lãi vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, nhưng ông G không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện do Ngân hàng xuất trình, nên căn cứ vào hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ nêu trên và quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định ông G có vay tiền và còn nợ Ngân hàng, nên Ngân hàng yêu cầu ông G trả số tiền nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập phù hợp theo quy định tại Điều 11 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước ban hành và Điều 1 và Điều 2 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/04/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, số tiền lãi theo yêu cầu nêu trên Ngân hàng đã áp dụng tính tiền lãi đúng theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, do vậy Ngân hàng yêu cầu ông G có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 04/8/2023 vốn gốc là 77.425.700 đồng, lãi trong hạn là 40.435.572 đồng, lãi quá hạn là 24.644.987, tổng cộng 142.506.259 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày 05/8/2023, nếu ông G không thanh toán số tiền trên cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 109.20/15/HĐTD ngày 15/4/2015 thì ông G còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông Trần Thanh G phải chịu 7.125.312 đồng án phí sơ thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H.
Buộc ông Trần Thanh G phải trả cho Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 109.20/15/HĐTD ngày 15/4/2015, vốn gốc là 77.425.700 đồng, lãi trong hạn là 40.435.572 đồng, lãi quá hạn là 24.644.987. Tổng cộng 142.506.259 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).
Kể từ ngày 05/8/2023, ông Trần Thanh G còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 109.20/15/HĐTD ngày 15/4/2015 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2/ Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Thanh G phải chịu 7.125.312 đồng (Bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm mười hai đồng) án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.458.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007675, ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA); - Các đương sự; - VKSND TPST; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chiêm Ngọc Linh |