- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đ…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: bị cáo Trần Tấn Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HSST Ngày: 27 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hồ Lê Hưng;
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận T P, thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T P, thành phố H tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T P, TP. Hxét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 11/2022/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Tấn Đ; sinh năm 2000, tại: B T; Nơi đăng ký NKTT: 73/2 xã T P, huyện T P, tỉnh B T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Tấn T, sinh năm 1976 và bà: Lê Thị T, sinh năm 1978; vợ, con: chưa; tiền sự: không; tiền án: không;
Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 16/02/2007; trú tại: 3/7 tổ 10, ấp Đ T, huyện H M, TP. H (Vắng mặt).
- Người giám hộ cho cháu Lê Thị Bảo N: ông Lê Toàn Th, sinh năm 1980; trú tại: 3/7 tổ 10, ấp Đ T, huyện H M, TP. H(Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lê Thị T, sinh năm 1978; trú tại: 73/2 xã T P, huyện T P, tỉnh B T (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Tấn Đ và em Lê Thị Bảo N (sinh ngày 16/02/2007) quen biết nhau trên mạng xã hội từ ngày 16/02/2021 sau đó nảy sinh tình cảm. Trong thời gian quen nhau Đ đã quan hệ tình dục với em N 02 lần, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 20/02/2021, Đ nhắn tin qua ứng dụng Zalo rủ N đến phòng trọ của Đ tại phòng trọ số 34, nhà số 87/1 T H, phường H T, quận T P. N đồng ý và đón xe ôm công nghệ (grab) cùng em gái ruột là Lê Huỳnh Bảo Tr (Sinh ngày 23/3/2008) đến phòng trọ của Đ để chơi game. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Tr đặt xe grab về trước, chỉ còn Đ và N cùng chơi game với nhau ở trong phòng trọ đã khóa chốt cửa phía trong. Lúc này, Đ và N nảy sinh ý định quan hệ tình dục với nhau nên N tự cởi quần áo của mình còn Đ cởi quần áo của Đ rồi dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của N, sau đó Đ hôn vào ngực và âm hộ của N rồi nằm đè lên người N và cho dương vật vào bên trong âm hộ của N để quan hệ tình dục được khoảng 15 phút sau thì Đ rút dương vật ra khỏi âm hộ của N và xuất tinh vào lòng bàn tay của Đ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày N đặt xe grab về nhà.
Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 27/02/2021, Đ rủ N qua phòng trọ số 34 của Đ tại nhà số 87/1 T H, phường H T, quận T P qua ứng dụng Zalo. N đồng ý và đón grab đến phòng trọ của Đ. N ngủ qua đêm với Đ tại đây. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/02/2021, Đ rủ N quan hệ tình dục thì N đồng ý. N tự cởi quần áo của mình, Đ tự cởi quần áo của Đ, sau đó Đ quan hệ tình dục với N được khoảng 30 phút thì Đ đưa dương vật ra ngoài, không xuất tinh. Đến 10 giờ cùng ngày, N về nhà thì bị bà Huỳnh Thị Thanh K (mẹ của N) nghi ngờ nên N đã nói sự việc trên cho bà K biết, sau đó bà K đưa N đến Công an phường H T Trình báo sự việc
Tại Cơ quan điều tra, Trần Tấn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Theo Kết luận giám định giám định pháp y về tình dục số 31/TD.21 ngày 13/4/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thành phố H, kết luận: Màng trinh dãn rộng, bầm nhẹ mặt ngoài màng trinh vị trí 9 giờ; Xước nông kèm giả mạc vị trí 6 giờ; Xước nông vùng hố thuyền; Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và vùng hậu môn; Hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo và vùng âm hộ, đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng.
Theo Kết luận giám định giám định pháp y về ADN số 1.051A-2021/ADN ngày 26/4/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thành phố H, kết luận: ADN nhiễm sắc thể Y của Trần Tấn Đ có hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo và phết dịch âm hộ của Lê Thị Bảo N.
Vật chứng:
- Thu giữ của Trần Tấn Đ:
+ 01 áo sơ mi trắng dài tay; trên ngực có ký hiệu NY bên ngực trái; 01 quần tây dài màu đen, trên ống quần bên phải có thêu ký hiệu NY; 02 quần lót màu xanh đen, lưng quần có chữ SCORPIO SPORTS màu xanh dương; 01 áo sơ mi trắng tay dài, bên trái áo sơ mi trắng vị trí ngực có thêu hình con sói, 01 quần tây dài màu đen, trên ống quần phải có thêu hình con sói, Đ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
+ 01 tấm nệm màu xanh có kích thước 02m x 1.4m, Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30S màu đen, số imei 1: 3585441056715xx/xx, số Imei 2: 3585451056715xx/xx, Đ sử dụng liên lạc với Lê Thị Bảo N để thực hiện hành vi phạm tội;
- Thu giữ của em Lê Thị Bảo N: 01 áo khoác Jeans dài tay màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ, trên áo có hoa văn hình ngôi sao; 01 váy ngắn màu đen, trên lưng váy có gắn dây kim loại màu tráng; 01 lần lót màu hồng; 01 áo lót màu đen; 01 áo lót màu trắng; 01 quần Jeans màu xanh, trên ống quần bên trái có thêu biểu trượng màu đen trên có chữ Baiman; 01 áo thun màu trắng, trên ngực áo có hình ký tự NY NewYork CT màu hồng, 01 áo lá màu xanh dương, 01 quần lót màu xanh, trên lưng quần có chữ CK, N mặc khi Đ thực hiện hành vi phạm tội với N.
Các vật chứng trên Cơ quan điều tra đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 110/PNK ngày 26/7/2021;
Về phần dân sự: Đại diện gia đình bị can Trần Tấn Đ là bà Lê Thị T (mẹ ruột của Đ) đã bồi thường cho Lê Thị Bảo N số tiền 25.000.000 đồng. Đại diện gia đình, bố ruột của bị hại là Lê Toàn Th làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Trần Tấn Đ.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSQ.TP ngày 29 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận T P, TP. Hđã truy tố bị cáo Trần Tấn Đ về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận T P giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Trần Tấn Đ từ 03 năm đến 04 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
- Bị cáo Trần Tấn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Tấn Đ đã khai nhận như sau: Trần Tấn Đ và Lê Thị Bảo N (sinh ngày 16/02/2007) có quan hệ tình cảm yêu đương với nhau từ tháng 02 năm 2021. Từ ngày 20/02/2021 đến ngày 28/02/2021, Trần Tấn Đ đã 02 lần quan hệ tình dục với Lê Thị Bảo N tại phòng trọ của mình tọa lạc tại 87/1 đường T H, phường H T, quận T P, TP. H.
Theo Kết luận giám định giám định pháp y về tình dục số 31/TD.21 ngày 13/4/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thành phố H, kết luận: Màng trinh dãn rộng, bầm nhẹ mặt ngoài màng trinh vị trí 9 giờ; Xước nông kèm giả mạc vị trí 6 giờ; Xước nông vùng hố thuyền; Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và vùng hậu môn; Hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo và vùng âm hộ, đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng.
Theo Kết luận giám định giám định pháp y về ADN số 1.051A-2021/ADN ngày 26/4/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thành phố H, kết luận: ADN nhiễm sắc thể Y của Trần Tấn Đ có hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo và phết dịch âm hộ của Lê Thị Bảo N.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Cáo trạng số 15/CT-VKSQ.TP ngày 29/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận T P, TP. Hđã truy tố bị cáo Trần Tấn Đ về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a (phạm tội 02 lần trở lên) khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực nhận thức hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là hành vi vi phạm pháp luật, mặc dù giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ tình cảm yêu thương nhau, nhưng tính đến ngày bị xâm phạm thì bị hại chưa đủ 16 tuổi, ở độ tuổi này nhận thức pháp luật của bị hại có phần còn hạn chế. Bị cáo phải biết người bị hại là trẻ em khi thực hiện hành vi giao cấu sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Vì ham muốn dục vọng của bản thân mà bị cáo đã thực hiện hành vi giao cấu 02 lần với bị hại là tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Về tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả; gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra gia đình của bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 25.000.000 đồng, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của Trần Tấn Đ:
+ Đối với 01 áo sơ mi trắng dài tay; trên ngực có ký hiệu NY bên ngực trái; 01 quần tây dài màu đen, trên ống quần bên phải có thêu ký hiệu NY; 02 quần lót màu xanh đen, lưng quần có chữ SCORPIO SPORTS màu xanh dương; 01 áo sơ mi trắng tay dài, bên trái áo sơ mi trắng vị trí ngực có thêu hình con sói, 01 quần tây dài màu đen, trên ống quần phải có thêu hình con sói, Đ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 tấm nệm màu xanh có kích thước 02m x 1.4m, Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30S màu đen, số imei 1: 3585441056715xx/xx, số Imei 2: 3585451056715xx/xx, Đ sử dụng liên lạc với Lê Thị Bảo N để thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Thu giữ của em Lê Thị Bảo N: 01 áo khoác Jeans dài tay màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ, trên áo có hoa văn hình ngôi sao; 01 váy ngắn màu đen, trên lưng váy có gắn dây kim loại màu tráng; 01 lần lót màu hồng; 01 áo lót màu đen; 01 áo lót màu trắng; 01 quần Jeans màu xanh, trên ống quần bên trái có thêu biểu trượng màu đen trên có chữ Baiman; 01 áo thun màu trắng, trên ngực áo có hình ký tự NY NewYork CT màu hồng, 01 áo lá màu xanh dương, 01 quần lót màu xanh, trên lưng quần có chữ CK, N mặc khi Đ thực hiện hành vi phạm tội với N. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: bị cáo Trần Tấn Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;
[2] Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
[3] Xử phạt bị cáo Trần Tấn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30S màu đen, số imei 1: 3585441056715xx/xx, số Imei 2: 3585451056715xx/xx.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi trắng dài tay; trên ngực có ký hiệu NY bên ngực trái; 01 quần tây dài màu đen, trên ống quần bên phải có thêu ký hiệu NY; 02 quần lót màu xanh đen, lưng quần có chữ SCORPIO SPORTS màu xanh dương; 01 áo sơ mi trắng tay dài, bên trái áo sơ mi trắng vị trí ngực có thêu hình con sói, 01 quần tây dài màu đen, trên ống quần phải có thêu hình con sói; với 01 tấm nệm màu xanh có kích thước 02m x 1.4m; 01 áo khoác Jeans dài tay màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ, trên áo có hoa văn hình ngôi sao; 01 váy ngắn màu đen, trên lưng váy có gắn dây kim loại màu tráng; 01 lần lót màu hồng; 01 áo lót màu đen; 01 áo lót màu trắng; 01 quần Jeans màu xanh, trên ống quần bên trái có thêu biểu trượng màu đen trên có chữ Baiman; 01 áo thun màu trắng, trên ngực áo có hình ký tự NY NewYork CT màu hồng, 01 áo lá màu xanh dương, 01 quần lót màu xanh, trên lưng quần có chữ CK.
Các vật chứng trên Cơ quan điều tra đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 110/PNK ngày 26/7/2021 của Công an quận T P, TP. H;
[5] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Tấn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố H. Người bị hại, Người giám hộ cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QL&NV liên quan; - VKSND Q.T P; - THADS quận T P; - Công an Q.T P; - CATP. HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Đức Thành |