- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D 12 (mười hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA Bản án số: 86/2022/HSST |
Ngày 20 tháng 7 năm 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ; Ông Nguyễn Đức Việt.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy D, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1977 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Nguyễn Duy N sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị L sinh năm 1946. Bị cáo có vợ Lò Thị N sinh năm 1986, nghề nghiệp: Giáo viên, trú tại: tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018).
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lò Thị N sinh năm 1986, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/3/2022, Nguyễn Duy D điều khiển xe mô tô đi từ nhà tại tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn đến ngã ba tiểu khu 14 thì gặp người đàn ông tên N.A (nhà ở khu vực cầu treo, không rõ địa chỉ cụ thể) do biết N.A là người nghiện ma túy nên đã gọi N.A và đặt vấn đề mua 200.000 VNĐ Heroine để sử dụng. D ngậm gói ma túy trong miệng rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị tổ Công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng.
Kết luận giám định số 481/KLMT ngày 16/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số vật chứng thu giữ của Nguyễn Duy D là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,12 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 60/CT-VKSMS ngày 22/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Duy D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng, mảnh nilon, băng dính gói ma túy ban đầu được chứa trong 01 phong bì được niêm phong theo quy định, vỏ phong bì cũ gửi giám định.
Trả lại cho Nguyễn Duy D số tiền 570.000 VNĐ được chứa trong 01 phong bì, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S, màu xanh, kèm 01 sim điện thoại di động.
Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan- Chị Lò Thị N: 01 xe mô tô hiệu Honda Future, biển kiểm soát 26K1-129.16.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Duy D tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về đường lối giải quyết vụ án:
Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện Mai Sơn lập vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 14/3/2022 đối với bị cáo Nguyễn Duy D cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu đen bên trong chứa 0,12 gam loại Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 481/KLMT ngày 16/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,12 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam loại Heroine”.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mua và cất giữ 0,12 gam Heroine của một người nam giới tự giới thiệu tên N.A mới quen được khoảng 01 tháng (D không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này) với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3] Xét tính chất vụ án:
Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giữ ma túy trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị hình phạt và xử lý vật chứng là đảm bảo đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; ông Nguyễn Duy N - bố đẻ bị cáo có 02 huân chương kháng chiến, bà Nguyễn Thị L – mẹ đẻ bị cáo có 01 huân chương kháng chiến, xét thấy bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng nên cần áp dụng điểm s, khoản 2 khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án:
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng, mảnh nilon, băng dính gói ma túy ban đầu được chứa trong 01 phong bì được niêm phong, vỏ phong bì cũ gửi giám định là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 570.000 VNĐ được chứa trong 01 phong bì qua quá trình điều tra xác định là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cẩn trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S, màu xanh, kèm 01 sim điện thoại di động xác định là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cẩn trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Future, biển kiểm soát 26K1-129.16, đã qua sử dụng cũ xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, do bị cáo đi chấp hành án nên trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan- Chị Lò Thị N.
[7] Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai mua của một người nam giới tự giới thiệu tên N.A, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Việc trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng 0,12 gam Heroine thu giữ trong vụ án.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Duy D.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng, mảnh nilon, băng dính gói ma túy ban đầu được chứa trong 01 phong bì được niêm phong theo quy định, vỏ phong bì cũ gửi giám định.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy D: Số tiền 570.000 VNĐ được chứa trong 01 phong bì; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S, màu xanh, kèm 01 sim điện thoại di động.
Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan- Chị Lò Thị N: 01 xe mô tô hiệu Honda Future, biển kiểm soát 26K1-129.16, đã qua sử dụng cũ.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Duy D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - THADS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - THA huyện Mai Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Tráng A Tếnh |