vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 06/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Thị D, Nguyễn Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ký hiệu 65 ngày 25/3/2022 đựng ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong; 01 chiếc giày vải màu trắng đen, 01 chiếc giày da màu đen.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Thị D, Nguyễn Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày: 06-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Diệm, ông Đỗ Văn Kha.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Chung - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/HSST-QĐ ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Thị D, sinh năm: 1988, tại Bạc Liêu; Tên gọi khác: Mai; HKTT: Ấp Q, xã A, huyện J, tỉnh Bình Phước. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Khơ me; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Danh L – sinh năm 1971 và bà Thị U - sinh năm 1967; Bị cáo có chồng Nguyễn Thanh B, sinh năm 1981 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2022 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

2.Họ và tên: Nguyễn Đình H, sinh năm: 1994; tại Khánh Hòa; Tên gọi khác: Không; HKTT: Khu phố Yên Hòa 1, thị trấn C, huyện Cam Lâm, tỉnh K. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình F, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2022 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Hải S, sinh năm 1980.

Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố Thanh Bình, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Nguyễn Văn P, sinh năm 1963.

Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố 3, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2022, Thị D mở quán cà phê “Bảo Trân” tại khu phố 1, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài và thuê Nguyễn Đình H để phụ bán quán. Quá trình kinh doanh, D nảy sinh ý định mua ma túy (Heroin) về bán lại cho người khác để kiếm lời, đồng thời D bàn bạc với H là D sẽ mua ma túy về để H bán lại, mỗi lần H bán được 01 tép thì Dững sẽ trả công cho Hưng 30.000 đồng thì H đồng ý. Đến khoảng 13 giờ ngày 23/3/2022, D mua 11 tép Heroin (số ma túy trên được đựng trong 11 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín hai đầu) của một người phụ nữ tên Quỳnh (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 200.000 đồng/01 tép (D chưa trả tiền cho Quỳnh). Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Hải S đến gặp H và hỏi mua 01 tép Heroin với giá 180.000 đồng thì Hưng đồng ý và nói lại với D thì D đồng ý bán, đồng thời đưa cho Hưng 01 tép Heroin. Sau khi bán được ma túy, Hưng đưa cho D 150.000 đồng và giữ lại 30.000 tiền công. Đến khoảng 18 giờ ngày 22/3/2022, Dững bỏ 07 tép Heroin vào trong chiếc giày vải màu trắng, đen và 03 tép Heroin vào bên trong chiếc giày da màu đen để trên kệ giày, dép trong quán, đồng thời dặn Hưng 07 tép Heroin trong giày vải được bán với giá 300.000 đồng/tép; 03 tép Heroin trong giày da thì bán với giá 500.000 đồng/tép. Sau đó D đi về nhà tại ấp Phố Lố, xã An Phú, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Khoảng 10 giờ ngày 24/3/2022, Nguyễn Hải S tiếp tục đến gặp H để mua 01 tép Heroin với giá 180.000 đồng thì H đồng ý, trong lúc H chuyển bị đi lấy ma túy giao cho S thì D đi về, cùng lúc này lực lượng Công an thành phố Đồng Xoài tiến hành kiểm tra phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.

Kết luận giám định số 65/KL(MT)-KTHS ngày 29/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Chất màu trắng (ký hiệu M) có trong 10 đoạn ống hút nhựa hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng là 0,3554 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Thị D và Nguyễn Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thị D mức án từ 08-09 năm tù.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H mức án từ 07-08 năm tù.

Bị cáo Thị D, Nguyễn Đình H tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 26/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng; vật chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài Thị D đã mua ma túy cùng với Nguyễn Đình H nhiều lần bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy để kiếm lời. Cụ thể: Trong các ngày 23/3/2022 và 24/3/2022 Dững và Hưng đã bán 02 tép ma túy với giá 360.000 đồng cho Nguyễn Hải S tại quán cà phê “Bảo Trân” tại khu phố 1, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Hành vi của các bị cáo D, H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản… để có tiền sử dụng ma túy. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo một mức án nghiêm để răn đe, giáo dục và làm tốt công tác phòng chống ma túy.

Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm, đồng phạm giản đơn, bị cáo D là người khởi xướng, trực tiếp đi mua ma túy về chia nhỏ ra, sau đó cùng bàn bạc với H để bán ma túy cho những đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo H.

Bị cáo H biết được mục đích của bị cáo D, nhưng khi được rủ cùng bán ma túy thì bị cáo không can ngăn, còn trực tiếp lấy ma túy bán và thu tiền cho bị cáo D. Do đó, bị cáo H phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm là người thực hành.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các bị cáo sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Thị D do hiện đang phải nuôi 02 con nhỏ, gia đình có người có công với cách mạng nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt thêm theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Đối với Nguyễn Hải S có hành vi mua ma túy của các bị cáo để sử dụng, ngày 02/6/2022, Công an thành phố Đồng Xoài đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng đúng quy định nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 bì thư ký hiệu 65 ngày 25/3/2022 đựng ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong, vật chứng này thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, 01 chứng minh nhân dân mang tên Thị D của bị cáo D không liên quan vụ án nên trả lại cho bị cáo D.

- 01 chiếc giày vải màu trắng đen, 01 chiếc giày da màu đen là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 1.890.000 đồng thu giữ của bị cáo H và bị cáo D, tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận trong số tiền này có 180.000 đồng tiền H bán ma túy cho S; bị cáo H cũng thừa nhận toàn bộ số tiền bị thu giữ là tiền bán nước của bị cáo D. Do các bị cáo bán ma túy cho S 02 lần tổng tộng là 360.000 đồng nên cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính này để sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại sau khi khấu trừ số tiền thu lợi bất chính là 1.530.000 đồng của bị cáo D vì không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo D.

[10] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Thị D, Nguyễn Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thị D 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/3/2022.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/3/2022.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ký hiệu 65 ngày 25/3/2022 đựng ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong; 01 chiếc giày vải màu trắng đen, 01 chiếc giày da màu đen.

- Tuyên trả lại cho bị cáo Thị D: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, 01 chứng minh nhân dân mang tên Thị D, số tiền 1.530.000 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi ngàn đồng).

(Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002019, quyển số 0041 ngày 31/8/2022 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ