vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Duy T 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/7/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày: 29-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Minh

Ông Nguyễn Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T; Sinh ngày: 05/03/1985 tại huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: 01: Ngày 24/12/2021 bị Ủy ban nhân dân thị trấn Thạch Hà, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 43/QĐ-UBND trong thời hạn 3 tháng. Đến ngày 24/03/2022 chấp hành xong; Nhân thân: Ngày 15/03/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 tại Bản án số 23/HSST. Thi hành án tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình đến ngày 02/02/2005 chấp hành xong hình phạt tù. (Đã chấp hành xong bản án, đã xóa án tích); Ngày 28/07/2005 bị Công an thị trấn Thạch Hà, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích bằng hình thức cảnh cáo; Ngày 27/04/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 tại Bản án số 07/2012/HSST. Thi hành án tại Trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 19/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù. (Đã chấp hành xong bản án, đã xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2022 đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Quỳnh T3; Sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: đường V, tổ dân phố 6, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Huy P, sinh năm 2003; Trú tại: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 26/07/2022, Nguyễn Duy T và Lê Thị Quỳnh T3 đến khách sạn Đ tại đường H thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thuê phòng nghỉ. Đến khoảng hơn 16 giờ cùng ngày, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn thẻ sim số 0832535685 gọi đến số điện thoại 0373291626 cho một người đàn ông tên H ở thành phố V, tỉnh Nghệ An (không rõ lý lịch, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 4.500.000 đồng ma túy Heroine, H hẹn Nguyễn Duy T đi đến khu vực ngã tư đèn xanh đỏ thuộc địa phận xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh để lấy ma túy. T mượn chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 màu trắng biển kiểm soát 38A-355.43 của chị T3 đến khu vực gần ngã tư đèn xanh đỏ thuộc địa phận xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh để lấy ma túy. Khoảng 1 giờ sau thì H đi đến đưa cho T 01 túi ni lông màu đỏ bên trong chứa chất bột nén màu trắng và cho T thêm 19 viên nén hình tròn màu hồng được đựng trong 01 túi ni lông màu trắng để về sử dụng, T kiểm tra thì biết là ma túy Heroine và Hồng phiến nên cầm lấy và trả 4.5000.000 đồng cho H. T để số ma túy trên ở trong hộc trên ghế lái rồi điều khiển xe đi về thành phố H. Khi về đến khu vực gara của khách sạn Đ, T gọi điện cho chị T3 xuống đi ăn. Đến 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đang chờ chị T3 đi xuống thì bị Công an thành phố Hà Tĩnh tiến hành kiểm tra thì T liền lấy 01 túi ni lông màu đỏ bỏ vào miệng nhai, lực lượng Công an đã nhanh chóng khống chế nên T đã nhả túi ni lông màu đỏ làm rơi xuống ngay dưới cánh cửa xe ô tô Mazda CX5 màu trắng, biển kiểm soát 38A-355.43, lực lượng Công an đã thu giữ số ma túy trên để vào trong 01 túi ni lông trong suốt và thu giữ số ma túy đang dính xung quanh miệng của T, đồng thời thu giữ 01 túi ni lông trong suốt đựng 19 viên nén hình tròn màu hồng được để trên ghế lái bên trong xe ô tô Mazda CX5 màu trắng, biển kiểm soát 38A-355.43 mà T điều khiển.

Kết luận giám định số 736/KL-KTHS ngày 29/07/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định: Chất bột trắng đựng trong 01 túi ni lông trong suốt và 01 túi ni màu đỏ (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,1562 gam, là Heroine; Chất bột trắng đựng trong 01 mẫu giấy (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0062gam, là Heroine; 19 viên nén hình tròn, màu hồng chứa trong túi nilon trong suốt (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,8710 gam, là Methamphetamine. Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II. C, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 88/CT-VKS-TPHT ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Duy T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/7/2022; Hình phạt bổ sung: Không; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 5,9825 gam Heroine (đã trừ mẫu giám định); 1,5786 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 01 túi ni lông màu đỏ, 01 túi ni lông trong suốt, 01 thẻ sim số 0832535685; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen của bị cáo Nguyễn Duy T.

Tại phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 40 phút ngày 26/07/2022 tại khu vực gara khách sạn Đ có địa chỉ tại đường H thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Duy T đang có hành vi tàng trữ trái phép 6,1624 gam ma túy Heroine và 1,8710 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa, hủy hoại sức khỏe và nhân cách con người, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, bị cáo có ông bà ngoại được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn nên khi lượng hình xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 5,9825 gam Heroine (đã trừ mẫu giám định); 1,5786 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, 01 túi ni lông màu đỏ, 01 túi ni lông trong suốt, 01 thẻ sim số 0832535685 không có giá trị sử dụng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của bị cáo là công cụ phương tiện phạm tội, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 màu trắng biển kiểm soát 38A-355.43 thu giữ tại Nguyễn Duy T được trả lại cho chủ sở hữu chị Lê Thị Quỳnh T3 là phù hợp.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

Theo lời khai của T thì số ma túy thu giữ trên là mua của một người đàn ông tên H có số điện thoại 0373291626, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội cung cấp thông tin chủ số thuê bao trên nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời nên tách để xử lý sau là phù hợp. Đối với chị Lê Thị Quỳnh T3 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 màu trắng biển kiểm soát 38A-355.43 nhưng chị T3 không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy và tàng trữ ma túy trên xe nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Duy T 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/7/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy 5,9825 gam Heroine (đã trừ mẫu giám định); 1,5786 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 01 túi ni lông màu đỏ, 01 túi ni lông trong suốt, 01 thẻ sim số 0832535685.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen của bị cáo Nguyễn Duy T.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đế quyền lợi, nghĩa vụ của mình).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ