- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kham Van Tuyen phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Khằm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HS-ST Ngày: 15-11- 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và ông Đinh Xuân Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thúy Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Khằm Văn T, sinh năm 1970 tại tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Tổ dân phố a, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khằm Văn L và bà Hoàng Thị G (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Pha N và 03 con (con lớn 27 tuổi, con nhỏ 16 tuổi); nhân thân: Ngày 01/12/1998 phạm tội “Cướp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 40 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/HSST ngày 08/11/1999, ngày 27/5/2002 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2020; đang tạm giam - Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:Anh Đàm Văn T và anh Bùi Duy A – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khằm Văn T và Bùi Duy A là bạn bè và đều là người nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 24/12/2020, A gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy để sử dụng thì T đồng ý và hẹn đến nhà lấy. Khoảng 30 phút sau, A đi tới nhà của T tại tổ dân phố a, phường N, thành phố G đưa cho T 500.000 đồng và nói“Còn đồ để cho em một ít”, T đưa cho A 01 cục nhỏ ma túy Heroin, phần ma túy còn lại T gói vào túi nilon cất lại vào ví để sử dụng.
Sau khi mua được ma túy, A lấy một phần cho vào bơm kim tiêm đã chuẩn bị sẵn để sử dụng, phần còn lại gói vào 01 miếng giấy bạc màu vàng (loại giấy bạc có trong gói thuốc lá) rồi cất giấu trong người. Lúc này, T cũng lấy ma túy Heroine của mình cho ra tờ giấy bạc, dùng bật lửa đốt và ngồi sử dụng (hít) cùng với A tại nhà của T.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành phố Gia Nghĩa phát hiện và bắt quả tang T và A đang sử dụng ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, Cơ quan điều tra đã đã thu giữ được toàn bộ tang vật vụ án và một số đồ vật khác liên quan.
Quá trình điều tra mở rộng đã xác định được, trước đó vào hồi 18 giờ 45 phút ngày 23/12/2020 tại tổ dân phố b, phường N1, thành phố G, Khằm Văn T bán ma túy cho Đàm Văn T với số tiền 590.000 đồng. Tại kết luận giám định số 190/KLMT-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận ma túy T bán cho Đằm Văn T là Heroin có khối lượng 0,1402 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Khằm Văn T khai nhận nguồn gốc ma túy trên là do T mua của một đối tượng tên “P” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại xã Q, huyện Đ vào khoảng đầu tháng 12/2020 với giá 8.000.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Trong số này, có một phần là thuốc phiện T đã sử dụng rồi cất trữ lại phần xái để tái sử dụng, Cơ quan điều tra đã thu giữ được và gửi giám định.
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật gồm: 01 gói giấy màu vàng kích thước (1,3 x 01)cm, bên trong đựng chất rắn màu trắng (Thu giữ của Bùi Duy A, niêm phong trong bì thư số 01); 02 gói nilon không màu, kích thước (11,3 x 5,5)cm, bên trong đựng chất rắn màu trắng (thu giữ của Khằm Văn T niêm phong trong bì thư số 02); 01 gói nilon không màu, miệng buộc túm, bên trong đựng chất rắn màu trắng (thu giữ của Khằm Văn T niêm phong trong bì thư số 03); 04 gói nilon không màu, miệng buộc túm, trong đó: 02 túi đựng chất bột màu vàng nhạt, 01 túi đựng chất rắn dạng cục màu nâu đen, 01 túi đựng chất rắn màu nâu và màu nâu đen (niêm phong trong một thùng carton); 01 hộp nhựa có nắp đậy hình tròn, cao 9,5cm, đường kính 05cm, bên trong đựng rắn màu đen (niêm phong trong bì thư); 01 bộ dụng cụ sử dụng thuốc phiện gồm: 01 khay gỗ hình chữ nhật kích thước (22 x 31)cm; 01 thanh gỗ hình trụ tròn màu nâu đường kính 1,4cm, dài 15cm; 01 điếu hút bằng gỗ dài 27,5cm, phần đầu lớn đường kính 4,2cm, phần đầu nhỏ đường kính 1,2cm; 01 con dao cán nhựa màu xanh lá cây, lưỡi dao bằng kim loại dài 14,5cm; 01 ly sứ màu sữa cao 04cm, rộng 05cm; 02 đèn dầu tự chế; 01 bật lửa màu đỏ cao 7,9cm; 01 thanh kim loại màu trắng, dài 19,5cm, một đầu nhọn, một đầu đập dẹp; 01 mảnh giấy bạc kích thước (3,6 x 7,7)cm, bị đốt cháy một phần; 01 (một) bật lửa màu vàng, cao 7,9cm, trên thân bật lửa ghi chữ “555”; 01 (một) bao thuốc lá màu xanh hiệu “Seven”, bên trong đựng 19 điếu thuốc lá; 01 cân điện tử, màu đen kích thước (02 x 8,5 x 12)cm, nhãn hiệu “Pocket Scale”; 01 khẩu súng hơi PCP và 39 viên kim loại kích thước 08 x 6,5mm; 01 bơm kim tiêm dài 11cm, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Masstel màu đen, gắn sim số 0974045393; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, gắn sim số 0988366102; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7.820.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 191/KLMT-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:
Chất rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 01 gửi giám định là ma túy Heroine, có khối lượng mẫu là 0,0221 gam, đã sử dụng hết cho công tác giám định (là ma túy thu giữ của Bùi Duy A).
Chất rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 02 gửi giám định là ma túy Heroine, có tổng khối lượng mẫu là 0,97821 gam, hoàn lại sau giám định 0,8029 gam.
Chất rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 3,7297 gam là Heroine, hoàn lại sau giám định 3,3395 gam.
Các chất đựng trong 04 gói nilon không màu niêm phong trong thùng carton có tổng khối lượng là 461,9846 gam, đều không phải là ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1345/C09C-Đ2 ngày 05/01/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất rắn màu đen đựng trong 01 hộp nhựa được niêm phong, gửi giám định có các thành phần của thuốc phiện được trộn lẫn với MAM-6, Acetyl codeine, Caffeine, Acetaminophen, khối lượng mẫu là 11,48 gam, hàm lượng Morphine là 0,3%.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy thu giữ của Khằm Văn T là 0,97821 gam + 3,7297 gam = 4,70791 gam Heroin và 11,48 gam xái thuốc phiện hàm lượng Morphine là 0,3%, tương đương với 0,344 gam thuốc phiện; ma túy thu giữ của Bùi Duy A là 0,0221 gam Heroin.
Tại Kết luận giám định số 05/KLGĐ-PC09 ngày 15/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận khẩu súng thu giữ của Khằm Văn T là súng hơi PCP, là vũ khí thuộc danh mục súng săn; 39 viên kim loại màu xám là loại đạn nấm, cỡ đạn 8 mm x 6,5 mm, sử dụng cho khẩu súng gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số 63/CTr-VKS-GN ngày 15/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Khằm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số: 14/2022/HCST-QĐ ngày 30/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xét thấy ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo Khằm Văn T còn thực hiện hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại Công văn số 548/HS-VKS-GN ngày 18/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa giữ nguyên quyết định truy tố tại Bản cáo trạng số 63/CTr-VKS-GN ngày 15/8/2022.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Khằm Văn T từ 08 năm đến 09 năm tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, 01 khay gỗ hình chữ nhật, 01 thanh gỗ hình trụ tròn, 01 điếu hút bằng gỗ, 01 con dao cán nhựa, 01 ly sứ, 01 đèn dầu tự chế, 01 bật lửa màu đỏ, 01 thanh kim loại, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa màu vàng, 01 bao thuốc lá, 01 cân điện tử và 01 bơm kim tiêm; tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo Khằm Văn T; tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng do Khằm Văn T bán ma túy cho Bùi Duy A mà có và khấu trừ vào số tiền 7.820.000 đồng thu giữ của bị cáo; truy thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 590.000 đồng mà Khằm Văn T có được do bán ma túy cho Đàm Văn T vào ngày 23/12/2020 và khấu trừ vào số tiền 7.820.000 đồng thu giữ của bị cáo; trả số tiền còn lại 6.730.000 đồng cho bị cáo Khằm Văn T; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel cho Bùi Duy A là chủ sở hữu hợp pháp.
Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 04/QĐ-CQĐT-ĐKTMT ngày 24/3/2021 trả lại đồ vật thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Pha N.
Đối với khẩu súng hơi PCP và 39 viên đạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Gia Nghĩa để quản lý, xử lý theo quy định nên đề nghị không đề cập xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 11,48 gam xái thuốc phiện chứa 0,3% hàm lượng Morphine (tương đương 0,344 gam) để sử dụng, do khối lượng dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên đề nghị không đề cập xử lý.
Đối với hành vi Khằm Văn T sử dụng súng hơi PCP mục đích để săn bắn động vật, theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì súng hơi thuộc danh mục súng săn. Trước đó, T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của T không cấu thành tội phạm này. Ngày 15/3/2021, Công an thành phố Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khằm Văn T về hành vi “Sử dụng vũ khí mà không có giấy phép” nên đề nghị không xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Bùi Duy A, do khối lượng ma túy thu giữ là 0,0221 gam Heroine, dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên đề nghị không đề cập xử lý hình sự đối với Bùi Duy A về hành vi này.
Đối với hành vi tàng trữ 0,1402 gam Heroin để sử dụng của Đàm Văn T, ngày 31/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đàm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” để xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với đối tượng tên P là người bán ma túy cho Khằm Văn T, do chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận Khằm Văn T đã hai lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/12/2020, Khằm Văn T đã bán ma túy cho Bùi Duy A với giá 500.000 đồng tại nhà riêng thuộc tổ dân phố a, phường N, thành phố G, tại kết luận giám định số 191/KLMT-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận chất rắn màu trắng được thu giữ trong người của Bùi Duy A là ma túy Heroine, có khối lượng là 0,0221 gam.
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 23/12/2020 tại tổ dân phố b, phường N1, thành phố G, T đã bán ma túy cho Đàm Văn T với giá 590.000 đồng, tại kết luận giám định số 190/KLMT-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận ma túy T bán cho Đàm Văn T là Heroin, có khối lượng là 0,1402 gam.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức coi thường pháp luật nên vẫn thực hiện. Do đó bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
…”.
Xét thấy hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án kết án về hành vi phạm tội “Cướp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để làm người công dân tốt mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm trừng trị bị cáo, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập và không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, Cơ quan điều tra đã thu giữ được của Khằm Văn T tổng cộng 4,70791 gam ma túy loại Heroin, bị cáo khai mua ma túy này của đối tượng tên “P” với số tiền 8.000.000đ nhằm mục đích để bán và sử dụng. Quá trình điều tra lại, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của bị cáo Khằm Văn T, bị cáo khai sau khi mua ma túy của đối tượng tên “P”, bị cáo đã lấy một ít bán cho Bùi Duy A, một ít bán cho Đàm Văn T và một ít để sử dụng cá nhân (03 lần) nhưng bị cáo không phân chia cụ thể phần nào bán, phần nào sử dụng. Ngoài ra, bị cáo còn khai nhận bị cáo không đồng ý hoặc cho Bùi Duy A mượn, thuê nhà của bị cáo để sử dụng ma túy. Việc Bùi Duy A sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo là do Duy A tự ý. Cơ quan điều tra đã kết luận không có căn cứ xử lý bị cáo Khằm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298 của Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo Khằm Văn T.
Đối với hành vi tàng trữ 11,48 gam xái thuốc phiện chứa 0,3% hàm lượng Morphine (tương đương 0,344 gam), bị cáo khai nhận tàng trữ để sử dụng, do khối lượng dưới mức xử lý trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên không đề cập xử lý.
Đối với hành vi Khằm Văn T sử dụng súng hơi PCP mục đích để săn bắn động vật, theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì súng hơi thuộc danh mục súng săn. Trước đó, T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của T không cấu thành tội phạm này. Ngày 15/3/2021, Công an thành phố Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khằm Văn T về hành vi “Sử dụng vũ khí mà không có giấy phép” là đúng pháp luật.
Đối với Bùi Duy A, do khối lượng ma túy thu giữ trên người là 0,0221 gam Heroine, dưới mức xử lý trách nhiệm hình sự về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó không đề cập xử lý hình sự đối với Bùi Duy A về hành vi này. Mặt khác, Bùi Duy A được là người nghiện ma túy, Công an thành phố Gia Nghĩa đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với hành vi tàng trữ 0,1402 gam Heroin để sử dụng của Đàm Văn T, ngày 31/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đàm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên P là người bán ma túy cho Khằm Văn T, do chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra đang xác minh làm rõ, khi nào có đủ cở sở sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ gồm: Số lượng ma túy hoàn lại sau giám định (0,8029 gam + 3,3395 gam); 11,48 gam xái thuốc phiện chứa 0,3% hàm lượng Morphine; 01 cân điện tử; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bơm kim tiêm; 01 mảnh giấy bạc; 02 bật lửa; 01 bao thuốc lá.
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo Khằm Văn T là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc bán ma túy.
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng do Khằm Văn T bán ma túy cho Bùi Duy A mà có và khấu trừ vào số tiền 7.820.000đ thu giữ của bị cáo, đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036409.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa tại Kho bạc nhà nước tỉnh Đắk Nông vào ngày 04/6/2021.
Truy thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 590.000đ mà Khằm Văn T có được do bán ma túy cho Đàm Văn T vào ngày 23/12/2020 và khấu trừ vào số tiền 7.820.000đ thu giữ của bị cáo, đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036409.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa tại Kho bạc nhà nước tỉnh Đắk Nông vào ngày 04/6/2021.
Trả lại 6.730.000đ cho bị cáo Khằm Văn T, số tiền này đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036409.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa tại Kho bạc nhà nước tỉnh Đắk Nông vào ngày 04/6/2021 và trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel cho Bùi Duy A là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với các chất qua giám định không phải là ma túy, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị Pha N (là vợ của Khằm Văn T) nên cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số: 04/QĐ-CQĐT-ĐKTMT ngày 24/3/2021 trả lại số đồ vật trên cho bà N.
Đối với khẩu súng hơi PCP và 39 viên đạn (có đặc điểm như biên bản thu giữ). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển số tang vật này đến Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Gia Nghĩa để quản lý, xử lý theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét chứng cứ buộc tội, quan điểm đề nghị về xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận. Xét quan điểm đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát là chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên không chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Khằm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Khằm Văn T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/12/2020).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ gồm: Số lượng ma túy hoàn lại sau giám định (0,8029 gam + 3,3395 gam); 11,48 gam xái thuốc phiện chứa 0,3% hàm lượng Morphine; 01 cân điện tử; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bơm kim tiêm; 01 mảnh giấy bạc; 02 bật lửa; 01 bao thuốc lá.
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ do Khằm Văn T bán ma túy cho Bùi Duy A và truy thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 590.000đ mà Khằm Văn T có được do bán ma túy cho Đàm Văn T vào ngày 23/12/2020. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 7.820.000đ thu giữ của bị cáo, đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036409.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa tại Kho bạc nhà nước tỉnh Đắk Nông vào ngày 04/6/2021.
Trả cho bị cáo Khằm Văn T số tiền còn lại là 6.730.000đ (Sáu triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036409.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa tại Kho bạc nhà nước tỉnh Đắk Nông vào ngày 04/6/2021.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel cho Bùi Duy A, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2021 giữa Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Khằm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND thành phố Gia Nghĩa; - Công an thành phố Gia Nghĩa; - Phòng HS, NV CA thành phố Gia Nghĩa; - CCTHADS thành phố Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Đỗ Thị Thắm |