vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 08/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày: 08/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Nguyễn Tuấn Anh

2/ Ông Vũ Văn Kiên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang, Thư ký Tòa án tỉnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 11 năm 2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2022/TLST-HS ngày 21/10/2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Cà Văn L, sinh năm: 1990. Tại: huyện T, tỉnh Điện Biên. Giới tính: Nam

Nơi đăng ký HKTT: Bản M, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên

Nơi ở: thôn X, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Cà Văn K, sinh năm 1960; Con bà: Quàng Thị P, sinh năm 1959. Bị cáo có 06 anh, chị em. Bị cáo con thứ năm.Vợ: Hoàng Thị D, sinh năm 1994; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ 2020

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Minh Ánh – trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên

* Người làm chứng:

Anh Phạm Quang N, sinh năm: 1961; Địa chỉ: thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 29/7/2022, tại đường làng thôn X, xã N, huyện V, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang Cà Văn L đang giấu ma túy trong người. Kiểm tra thu giữ tại túi quần phía trước bên trái 07 ống nhựa bịt kín hai đầu bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu MT1), thu tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng kèm 01 sim liên lạc.

Bản kết luận giám định số 328/KL-KTHS(MT) ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong ghi ký hiệu MT1 là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,379 gam.

Tại cơ quan điều tra, Cà Văn L khai nhận bản thân là người nghiện ma túy nên thường mua heroin về sử dụng và bán kiếm lời. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ L khai: Tối ngày 28/7/2022, L mua của người đàn ông ở khu vực nghĩa trang thôn X, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên với số tiền 800.000 đồng được 10 ống heroine. Sau đó, L mang về phòng trọ sử dụng 03 ống; khoảng 12 giờ ngày 29/7/2022, L mang 07 ống heroine còn lại ra khu vực đường làng thôn X, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên mục đích để bán, tuy nhiên chưa kịp bán đã bị lực lượng Công an tỉnh Hưng Yên thu giữ, bắt quả tang.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Cà Văn L vào tối ngày 28/7/2022, tại khu vực nghĩa trang thôn X, xã N, huyệnV, tỉnh Hưng Yên; Do L không biết rõ tên, tuổi địa chỉ nên không đủ thông tin xác minh xử lý.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng kèm 01 sim liên lạc hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh Hưng Yên.

Bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-P1 ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Cà Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Cà Văn L nhất trí và không bổ sung vào bản bào chữa của trợ giúp viên pháp lý. Nhất trí và không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo trình bầy quan điểm: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng về hành vi phạm tội, các điều, khoản của Bộ luật hình sự áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số và sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có đơn xin miễn hình phạt bổ sung và miễn nộp án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cà Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Cà Văn L từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về Biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh trắng kèm 01 sim liên lạc.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của Cà Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định số 328/KL-KTHS(MT) ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Hồi 12 giờ ngày 29/7/2022, tại đường làng thôn X, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cà Văn L mang 07 ống nhựa bên trong chứa ma túy, loại heroine có tổng khối lượng 0,379 gam nhằm mục đích để bán đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện. Bị cáo là người nghiện chất ma túy nên biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy do ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Mặt khác, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương. Nhưng vì nghiện ma túy bị cáo đã bất chấp tất cả để đi vào con đường phạm tội nên cần xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thêm qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

. Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như phân tích ở trên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

*Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 phòng bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 328/KT-KTHS (MT) ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự có 03 dấu tròn đỏ và 02 chữ ký là vật Nhà nước cấm mua bán nên tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh trắng kèm 01 sim liên lạc của bị cáo Cà Văn L do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Cà Văn L .

.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Cà Văn L phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố:

Bị cáo Cà Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cà Văn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/7/2022.

[3]. Về biện pháp tƣ pháp:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 phòng bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 33/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự và 02 bật lửa.

- Trả lại cho bị cáo Cà Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh trắng kèm 01 sim liên lạc

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/10/2022 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Hưng Yên).

[4]. Về án phí: Bị cáo Cà Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ