vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 9 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1202 (không phẩy một nghìn hai trăm linh hai) gam ma túy, loại Heroine (Heroin) hoàn lại sau giám định niêm phong trong phon… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày 30 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Láng.

2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1988 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Th, xã Nguyên X, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Văn Ch, đã chết và bà Trần Thị N; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01 tiền án. Bản án số 24/2017/HSST ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử Th 3 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (thực hiện ngày 12/9/2016), buộc bị cáo phải nộp sung ngân sách Nhà nước 15 triệu đồng, án phí hình sự 200.000 đồng. Ngày 17/10/2019 Th chấp hành xong hình phạt tù. Qua xác minh, ngày 10/8/2018 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum đã ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư. Ngày 23/8/2018, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư đã ra quyết định thi hành án đối với Th nhưng đến nay bị cáo chưa chấp hành khoản tiền sung ngân sách Nhà nước 15 triệu đồng; Tiền sự: không

Nhân thân: Bản án số 22/2011/HSST ngày 10/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư xử phạt Nguyễn Văn Th 03 tháng 08 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án tuyên trả tự do tại tòa cho bị cáo Th, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Bị cáo Th đã nộp 200.000 đồng án phí vào ngày 25/8/2011; Bản án số 21/2014/HSST ngày 14/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư xử phạt Th 01 năm 9 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty taxi Mai Linh 27.574.830 đồng và phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 1.277.000 đồng. Ngày 13/11/2015, Th chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 11/9/2020 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư ra quyết định đình chỉ thi hành án số tiền 1.477.000 đồng (án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 1.277.000 đồng) cho Nguyễn Văn Th. Đối với khoản bồi thường Công ty taxi Mai Linh 27.574.830 đồng, đến nay đã quá 05 năm nhưng Công ty taxi Mai Linh không có đơn yêu cầu nên đã hết thời hiệu thi hành án.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13 tháng 9 năm 2022, đến ngày 22 tháng 9 năm 2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

*/ Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số nhà 6/5, tổ 4, phường Phúc Kh, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn An L, xã Trung A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

(Anh V, anh Đ đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 13 tháng 9 năm 2022, Nguyễn Văn Th một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17F7-2718 đi từ nhà lên khu vực trung tâm Mobifone thuộc phường Trần Hưng Đ, thành phố Thái Bình gặp và mua của một người nam thanh niên (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Th cất gói Heroine vừa mua được vào túi quần sooc bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe đi về. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày Th về đến đường ĐH 07 thuộc thôn Quý Sơn, xã Song A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện Vũ Thư giữ lại, yêu cầu kiểm tra. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần sooc bên trái phía trước Th đang mặc 01 gói được gói bằng giấy tráng bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Th khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, Th mua về để sử dụng. Kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 17F7-2718 Thanh điều khiển không phát hiện, thu giữ gì.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Kết luận giám định số 363/KL-KTHS(MT) ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận:

“Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1567 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm sáu mươi bảy gam).

Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSVT ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Nguyễn Văn Th mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 9 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,1202 (không phẩy một nghìn hai trăm linh hai) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 363/KL-KTHS(MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các chứng cứ buộc tội bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng; Bản Kết luận giám định số 363/KL - KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của những chứng kiến là anh Nguyễn Tiến V và anh Nguyễn Viết Đ.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại trục đường ĐH 07 thuộc thôn Quý Sơn, xã Song An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,1567 gam trong túi quần sooc bên trái phía trước Thanh đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của Nguyễn Văn Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

c) Heroine,Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1552 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn Th là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Những năm qua, tệ nạn ma tuý ở Việt Nam vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma tuý mới. Ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia.

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Th có nhân thân xấu. Ngày 10/5/2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 tháng 08 ngày tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 14/5/2014, bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Đến ngày 07/4/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 03 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo Thanh không có tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Th chưa được xóa án tích tại bản án số: 24/2017/HSST ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét thấy, bị cáo Th tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi. Bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy, loại Heroine giám định hoàn lại còn lại 0,1202 (không phẩy một nghìn hai trăm linh hai)) gam niêm phong trong phong bì số 363/KL - KTHS (MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu để tiêu huỷ.

Những vấn đề khác trong vụ án:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 17F7-2718 quản lý khi bắt quả tang Th tàng trữ trái phép chất ma túy, qua điều tra xác định: Khoảng tháng 8 năm 2022, chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm Đ, xã Nhã Lộ, huyện Phú B, tỉnh Thái Nguyên, chỗ ở hiện nay: thôn Th, xã Nguyên X, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (là em gái của Th) mua của một người không quen biết qua trang mạng điện tử, khi mua xe không có giấy tờ mua bán, không có đăng ký xe. Ngày 13/9/2022 Th sử dụng xe trên để đi mua ma túy chị L không biết. Qua tra cứu xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Qua tra cứu số khung, số máy đăng ký mang tên anh Trịnh Quang Th, sinh năm 1985, trú tại thôn Thanh Tr, xã Minh L, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, anh Th đã mua xe trên tại cửa hàng xe máy vào năm 2007, sử dụng đến năm 2019 thì bán cho người khác không nhớ tên tuổi, địa chỉ. Tuy nhiên xe của anh Th đeo biển kiểm soát 17L3-3505, khác với biển kiểm soát 17F7-2718 khi quản lý xe của Th nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh và sẽ xử lý sau.

Về nam thanh niên đã bán ma túy cho Th, do Th khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 9 năm 2022.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1202 (không phẩy một nghìn hai trăm linh hai) gam ma túy, loại Heroine (Heroin) hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 363/KL-KTHS(MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 12 tháng 12 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30 tháng 12 năm 2022).

Cỡ chữ