vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu, tiêu hủy 2,98 gram Heroin còn lại cùng 01 chiếc tất màu đen, 01 chiếc tất màu xanh có thêu chữ SPORT màu đỏ và những mẫu vỏ bao niêm phong cũ. Trả lại cho L Q Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, đã qua sử dụng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LANG QUỐC Đ - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN
Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày 28 - 10 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU- TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Duẩn và ông Lý Văn Huân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên toà rút kinh nghiệm, xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2022/TLST - HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2022/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: L Q Đ. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 21 tháng 12 năm 1987 tại huyện Q C, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Khối H H, thị trấn T L, huyện Q C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V P và bà V T H (đã chết); Vợ: Chưa có. L Q Đ chung sống như vợ chồng với N T H tại bản T L, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An và có với nhau 01 con chung tên là L N H, sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (mười hai) tháng nhưng chưa thi hành; Nhân thân: Ngày 15/9/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/01/2014 và đã được xoá án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2022 đến ngày 26/6/2022 và tạm giam từ ngày 26/6/2022 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung tóm tắt như sau: L Q Đ là đối tượng nghiện ma túy. Vào ngày 10/6/2022, Đ đón xe khách đi lên huyện Q P, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực dốc C của xã C T, huyện Q P thì Đ gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Đ quay về nhà. Tại nhà mình, L Q Đ chia gói ma tuý mới mua được thành nhiều gói nhỏ khác nhau và cất dấu nhiều nơi trong khu vực nhà ở của mình để sử dụng dần. Trong đó: 02 gói ma tuý được bọc bằng giấy màu vàng cất dấu ở khe cầm của chiếc loa kéo màu đen đặt tại phòng khách; 03 gói ma tuý bọc bằng giấy bạc bỏ trong chiếc tất màu đen để bên cạnh chiếc ghế làm bằng gốc cây đặt ở thềm nhà; 02 gói ma tuý bọc bằng giấy màu xanh, 04 gói ma tuý bọc bằng giấy màu bạc, 04 gói ma tuý bọc bằng giấy màu vàng được bỏ vào trong túi nilon màu trắng và tất cả được bỏ vào trong chiếc tất màu xanh thêu chữ SPORT màu đỏ; 04 gói ma tuý bọc bằng giấy màu vàng và 06 gói ma tuý bọc bằng giấy màu trắng bỏ trong 01 túi nilon màu trắng được để bên cạnh chiếc ghế làm bằng gốc cây đặt ở thềm nhà. Khoảng 18 giờ ngày 17/6/2022, khi Đ đang điều khiển xe máy đi từ trung tâm thị trấn T L về nhà và có biểu hiện nghi vấn nên Công an truy đuổi về đến nhà và tiến hành kiểm tra. L Q Đ đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma tuý nói trên và khai nhận đây là ma túy mua về để sử dụng. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa đối tượng cùng toàn bộ tang vật về trụ sở để làm việc. Đồng thời trích lấy mẫu nghi là ma tuý đã thu của Đ gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 928/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 25/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “25 (hai mươi lăm) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M25) thu giữ của L Q Đ gửi đến giám định đều là ma tuý (Heroin). Số chất bột màu trắng thu giữ của L Q Đ có tổng khối lượng là 5,31 gr (năm phẩy ba mươi mốt gam).

Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 88/CT-VKS-QC ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định truy tố L Q Đ ra trước Tòa án để xét xử về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng quy định tại điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 BLHS, xử phạt L Q Đ từ 05 năm đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điều 106; khoản 2 điều 136 BLTTHS và NQ số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 2,98 gram Heroin còn lại cùng 01 chiếc tất màu đen, 01 chiếc tất màu xanh có thêu chữ SPORT và những mẫu vỏ bao niêm phong cũ; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen; buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Về cơ bản đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn này.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa đã xác định được bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên vào ngày 10/6/2022 đã lên huyện Q P tìm mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý (Heroin) với giá 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, Đ đưa về chia nhỏ thành nhiều gói và cất dấu nhiều nơi trong nhà để sử dụng dần. Khoảng 18 giờ ngày 17/6/2022, Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại nhà bị cáo 25 gói ma túy nhỏ được gói bằng nhiều chất liệu khác nhau. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động và 01 xe gắn máy. Căn cứ các Kết luận giám định số 928/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 25/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An thì tất cả các mẫu chất bột màu trắng thu giữ của L Q Đ gửi tới giám định đều là ma túy (Heroin) và có tổng khối lượng 5,31 gram (năm phẩy ba mươi mốt gam).

Quá trình xét xử tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án cũng như vật chứng thu giữ đã được thẩm tra, xem xét. Có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo L Q Đ đã phạm tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm đã hoàn thành và do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và các trách nhiệm khác liên quan tương ứng theo quy định của pháp luật. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Qùy Châu truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 BLHS là có cơ sở.

Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ và có nhận thức nhất định về pháp luật nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng, không chịu khó làm ăn và không tuân thủ quy định của pháp luật nên đã sớm đi vào con đường nghiện ngập và từ đó dẫn đến vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách chủ động, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của bản thân.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS để vận dụng xử phạt bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên đối với L Q Đ thì đây không phải lần đầu phạm tội: Ngày 15/9/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/01/2014 và đã được xoá án tích; Ngày 26/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (mười hai) tháng nhưng chưa thi hành. Do đó cần xử phạt nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để làm bài học răn đe, phòng ngừa chung.

Mặc dầu trong vụ án này bị cáo có 01 tiền sự: Đó là vào ngày 26/7/2021, L Q Đ bị Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (mười hai) tháng và cho đến ngày bị bắt vì có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” trong vụ án này vẫn chưa thi hành. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng đây không phải lỗi của bị cáo, sau khi Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Toà án có hiệu lực pháp luật thì bị cáo vẫn sinh sống tại địa phương, không trốn tránh. Lỗi ở đây là do Công an huyện Quỳ Châu và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Quỳ Châu không phối hợp để đưa L Q Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định của Toà án. Tính cho đến ngày 17/6/2022 khi L Q Đ bị bắt vì phạm tội mới thì thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 2 điều 108 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chưa hết. Do đó Hội đồng xét xử kiến nghị: Sau khi L Q Đ chấp hành xong quyết định hình phạt tù của Bản án này, đề nghị Công an huyện Quỳ Châu phối hợp với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Quỳ Châu tiếp tục đưa L Q Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Số 29/QĐ-TA ngày 26/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu tăng cường công tác kiểm sát việc thi hành pháp luật để các Bản án, Quyết định đã có hiệu lực phát luật của Toà án được thi hành nghiêm túc.

[5] Hình phạt bổ sung: Khoản 5 điều 249 BLHS quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ…hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên xét thấy bản thân bị cáo thuộc đối tượng dân tộc thiểu số, sống ở miền núi cao, hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và không tịch thu tài sản đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra đã thu giữ của bị cáo 25 gói ma tuý có tổng khối lượng 5,31 gram (năm phẩy ba mươi mốt gam), đã trích lấy mẫu để phục vụ công tác giám định hết 2,33 gram. Nay còn 2,98 gram cùng vỏ bao niêm phong cũ và 01 chiếc tất màu đen, 01 chiếc tất màu xanh có thêu chữ SPORT. Cần căn cứ khoản 2 điều 106 BLTTHS để tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 chiệc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, đây là tài sản của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội và cũng không phải do phạm tội mà có. Cần Cần căn cứ khoản 2 điều 106 BLTTHS để tuyên trả lại cho bị cáo.

Quá trình điều tra đã trả lại chiếc xe máy cho chị T T Đ. Thấy rằng việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Quỳ Châu đối với chiếc xe máy như vậy là đúng quy định của pháp luật, nay không xem xét nữa.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo L Q Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2022.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

+ Tịch thu, tiêu hủy 2,98 gram Heroin còn lại cùng 01 chiếc tất màu đen, 01 chiếc tất màu xanh có thêu chữ SPORT màu đỏ và những mẫu vỏ bao niêm phong cũ.

+ Trả lại cho L Q Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, đã qua sử dụng.

Những vật chứng nói trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 09 giờ, ngày 07/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc L Q Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ