- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị D - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị D phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HS-ST Ngày 21-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Mạnh Hùng
2. Ông Quốc Văn Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Ngô Thị D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/5/1978 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; anh, chị, em ruột: Có 08 anh chị em, bị cáo là thứ năm; con ông Ngô Văn K, sinh năm 1945 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1945; chồng Vũ Thanh L, sinh năm 1966, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 21/02/2022 của Chủ tịch UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 21/02/2022, chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Vũ Minh H, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Ông Trần Văn M, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Bà Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Anh Phan Quốc H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 21/7/2022, Ngô Thị Duyên, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc) cùng Phan Quốc H, sinh năm 1987 trú cùng thôn cũng đến nhà Phan Thị Thúy A, sinh năm 1978, trú tại thôn N, xã N, huyện C chơi. Khi đến nơi thấy Vũ Minh H, sinh năm 1971, Nguyễn Thùy D, sinh năm 1980 cùng trú tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C; Trần Văn M, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C và Phan Thị Thúy A đang đánh bạc bằng hình thức đánh sâm trong phòng ngủ tại (tầng 1) nhà ở Phan Thị Thúy A. Hình thức đánh bạc được quy ước như sau: Khi bắt đầu một ván bạc những người chơi sử dụng một bộ bài (tú lơ khơ 52 lá) chia đều cho những người chơi mỗi người 10 lá bài. Sau khi chia bài xong người nào đánh hết 10 lá bài trước thì thắng, người thua sẽ trả tiền cho người thắng tương ứng với lá bài còn lại trên tay (10.000 đồng/01 lá), nếu người chơi nào không đánh được lá bài nào (bị treo) thì bị mất 150.000 đồng; người nào báo sâm (đánh một lần, không người nào chặn được) thì được nhận số tiền 200.000 đồng từ mỗi người chơi. Quy trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần mỗi khi kết thúc một ván bạc và cá cược cho ván mới. D xem được một lúc thì xin mọi người tham gia ván bạc với hình thức nêu trên, đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi D và mọi người đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện C phát hiện và lập biên bản hành chính thu giữ số tiền 4.150.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ.
Quá trình điều tra bị cáo cùng các đối tượng khai nhận số tiền mang theo sử dụng đánh bạc như sau: Ngô Thị D sử dụng số tiền 810.000 đồng; Phan Thị Thúy A sử dụng số tiền 1.340.000 đồng; Trần Văn M sử dụng số tiền 840.000 đồng; Nguyễn Thùy D sử dụng số tiền 700.000 đồng; Vũ Minh H sử dụng số tiền 460.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo cùng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 4.150.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 84/CT-VKSCH ngày 24/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Ngô Thị D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngô Thị D phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thị D từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 810.000 đồng của Ngô Thị D; 1.340.000 đồng của Phan Thị Thúy A; 840.000 đồng của Trần Văn M; 700.000 đồng của Nguyễn Thùy D; 460.000 đồng của Vũ Minh H.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài (tú lơ khơ) 52 quân bài, cũ đã qua sử dụng.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX áp dụng phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.
Đối với hành vi đánh bạc của Vũ Minh H, Nguyễn Thùy D, Trần Văn M, Phan Thị Thúy A do tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc gá bạc; ngày 19/8/2022 Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không xem xét.
Đối với Phan Quốc H do không tham gia đánh bạc, do vậy không đề cập xử lý.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Ngô Thị D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi đánh bạc tại phòng ngủ (tầng 1) nhà ở của Phan Thị Thúy A, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Minh H, Nguyễn Thùy D, Trần Văn M, Phan Thị Thúy A đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo và Cáo trạng của Viện kiểm sát. Xác định đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh sâm tại phòng ngủ (tầng 1) nhà ở của Phan Thị Thúy A; trong đó Ngô Thị D sử dụng số tiền 810.000 đồng; Phan Thị Thúy A sử dụng số tiền 1.340.000 đồng; Trần Văn M sử dụng số tiền 840.000 đồng; Nguyễn Thùy D sử dụng số tiền 700.000 đồng; Vũ Minh H sử dụng số tiền 460.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo cùng các đối tượng nêu trên sử dụng vào việc đánh bạc là 4.150.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Người làm chứng Phan Quốc H vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Ngô Thị D tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 45 ngày 21/7/2022, tại phòng ngủ (tầng 1) nhà ở của Phan Thị Thúy A bị cáo Ngô Thị D đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh sâm, cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng với tổng số tiền là 4.150.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó: Ngô Thị D sử dụng số tiền 810.000 đồng; Phan Thị Thúy A sử dụng số tiền 1.340.000 đồng; Trần Văn M sử dụng số tiền 840.000 đồng; Nguyễn Thùy D sử dụng số tiền 700.000 đồng; Vũ Minh H sử dụng số tiền 460.000 đồng. Xét thấy mặc dù tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng do trong số các đối tượng đánh bạc có bị cáo Ngô Thị D có tiền sự về hành vi đánh bạc chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, muốn có tiền lợi nhuận nhưng không phải bằng chính sức lao động của chính mình mà thông qua hình thức đánh sâm để hưởng lợi. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và làm nảy sinh các tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm minh mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt mà cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và làm gương phòng ngừa tội phạm chung.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ, 52 quân bài, cũ đã qua sử dụng; thu giữ số tiền 4.150.000 đồng nộp tại tài khoản tạm gửi chờ xử lý. Xét thấy bộ tú lơ khơ là công cụ để bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 4.150.000 đồng là tiền mà bị cáo và các đối tượng Phan Thị Thúy A, Trần Văn M, Nguyễn Thùy D và Vũ Minh H sử dụng để đánh bạc, tiền này liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước
Đối với Phan Thị Thúy A, Trần Văn M, Nguyễn Thùy D và Vũ Minh H đã trực tiếp tham gia đánh bạc, riêng Phan Thị Thúy A còn cho đánh bạc tại nhà ở của mình. Tuy nhiên, tổng số tiền đánh bạc của 05 người là 4.150.000 đồng dưới định lượng quy định, chưa bị xử lý hành chính hoặc bị kết án về các tội đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc. Vì vậy, ngày 19/8/2022 Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Phan Quốc H, ngày 21/7/2022 khi bị cáo D và các đối tượng A, M, D, H đánh bạc trái phép tại nhà ở của Phan Thị Thúy A nhưng H không tham gia đánh bạc, do đó không có căn cứ xem xét, xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị D phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Thị D 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/11/2022.
Giao bị cáo Ngô Thị Duyên cho Uỷ ban nhân dân x, huyện C, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt tiền bị cáo Ngô Thị D 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
3. Về vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 810.000 đồng của Ngô Thị D; số tiền 1.340.000 đồng của Phan Thị Thúy A; số tiền 840.000 đồng của Trần Văn M, số tiền 700.000 đồng Nguyễn Thùy D; số tiền 460.000 đồng của Vũ Minh H. Tổng số tiền là 4.150.000 đồng, toàn bộ số tiền trên hiện đang được gửi tại tài khoản tạm gửi số 3591.0.1065091.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tuyên Quang được mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, 52 quân, cũ đã qua sử dụng.
Đặc điểm, tình trạng tài sản tịch thu tiêu hủy theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C lập ngày 11/11/2022.
4. Về án phí: Bị cáo Ngô Thị D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/11/2022.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Sở tư pháp; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Phòng HSNV CA tỉnh TQ; - Bị cáo, người có QLNVQ; - UBND xã Trung Hòa; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |