vanban.org

Bản án 86/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Mỹ Tú - Ngô Văn Thọ"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ NINH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 7 - 2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Xu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thạch.

Bà Lê Thị Bích Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2022/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Cao Thị Mỹ T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

2/ Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T trình bày: Chị và anh Ngô Văn T tự nguyện tìm hiểu xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Thành, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2015. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt uống rượu về gây gỗ, đánh đập chị nhiều lần, dùng lời lẽ xúc phạm đến danh dự chị, nhưng con còn quá nhỏ nên chị cố gắng chị đựng. Năm 2015 anh T vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử với mức án là 20 năm tù về tội giết người, hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Từ những mâu thuẫn và việc làm mà anh T gây ra làm cho tinh thần chị bị suy sụp. Nay chị không còn tình cảm gì với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để chị ổn định tinh thần làm ăn nuôi con.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Ngô Gia B, sinh ngày 30/10/2014. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con đến tuổi thành niên và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của đương sự bị đơn anh Ngô Văn T trình bày: Anh và chị Cao Thị Mỹ T tự nguyện kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Thành, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã T, huyện N. Năm 2015 anh bị bắt tạm giam về hành vi giết người, bị Tòa án xét xử với mức án 20 năm tù, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ nên hai vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đó đến nay. Những năm đầu chị T thăm nuôi đều đặn, nhưng do dịch bệnh Covid 19, hai năm gần đây chị T không thăm nuôi nữa. Cuối năm 2020 anh nhận được thư chị T gửi đến đề cập việc ly hôn. Nay chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh thấy vợ chồng không có mâu thuẫn, cải cọ gì nên anh không đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Ngô Gia B, sinh ngày 30/10/2014. Khi ly hôn anh đồng ý giao con cho vợ nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con vì không có điều kiện.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh tham gia phiên tòa: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng; Nguyên đơn và bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Mỹ T. Về hôn nhân: Áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Cao Thị Mỹ T và anh Ngô Văn T ly hôn. Về nuôi con chung: Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Ngô Gia B cho chị T nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về chia tài sản chung, nợ chung: Hai bên đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Cao Thị Mỹ T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ngô Văn T cư trú tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự

. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Mỹ T víi anh Ngô Văn T tự nguyện tìm hiểu và xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Thành, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Chị T cho rằng trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt uống rượu về gây gỗ, đánh đập chị nhiều lần, dùng lời lẽ xúc phạm đến danh dự chị, nhưng con còn quá nhỏ nên chị cố gắng chị đựng. Năm 2015 anh T vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử với mức án là 20 năm tù về tội giết người, hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Từ những mâu thuẫn và việc làm mà anh T gây ra làm cho tinh thần chị bị suy sụp. Nay chị không còn tình cảm gì với anh T nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để chị ổn định tinh thần làm ăn nuôi con. Anh T cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn, cải cọ gì nên anh không đồng ý ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T và anh T đều không yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T với anh T và việc làm của anh T mà chị T trình bày thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị T và anh T có 01 con chung là Ngô Gia B, sinh ngày 30/10/2014. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Khi ly hôn anh T đồng ý giao con cho chị T nuôi, anh không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu B hiện nay đã gần đủ 08 tuổi và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nên Hội đồng xét xử có cơ sở cháu giao cháu B cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu B thành niên (Đủ 18 tuổi) là phù hợp. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Cao Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội khoá XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Mỹ T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Mỹ T và anh Ngô Văn T ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Ngô Gia B, sinh ngày 30/10/2014 cho chị Cao Thị Mỹ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh Ngô Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Cao Thị Mỹ T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0010350 ngày 03 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Chị T đã nộp xong tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2022). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Các đương sự

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- UBND xã Tam Thành;

- VKSND huyện Phú Ninh;

Đã ký

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Phạm Văn Xu Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- UBND xã Tam Thành;

- VKSND huyện Phú Ninh;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Phạm Văn Xu TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ NINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NAM Số:.../2017/QĐST-HNGĐ

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Sỹ.

2. Bà Huỳnh Thị Bích Phi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Triệu Tin - Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số: 175/2016/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2016 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, trách nhiệm trả nợ chung khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2017.

Xét thấy bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất không có lý do.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

2.Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau:

Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Cỡ chữ