vanban.org

Bản án 86/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, anh Nguyễn Bá M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thuỳ L.

Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 18/12/2015. Anh M cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi cháu Y thành niên. Anh M có quyền, nghĩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Bá M - Nguyễn Thị Thuỳ L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, anh Nguyễn Bá M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thuỳ L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 12 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn

Ông Phạm Văn Điểm

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 77/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá M; sinh năm: 1989; HKTT: Phố T (nay là số nhà 352, đường P), thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Phố T (nay là số nhà 352, đường P), thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thuỳ L; sinh năm: 1994; HKTT: Phố T (nay là số nhà 352, đường P), thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Phố 1, Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt anh M, chị L. Anh M đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Bá M trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thuỳ L kết hôn tự nguyện, đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ năm 2015, nhưng mãi đến ngày 23/5/2016 mới đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Q, huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Đến tháng 05/2022, chị L bỏ về nhà ngoại ở Phố 1, Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.

Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 18/12/2015. Hiện đang ở với chị L. Ly hôn, anh giao cháu Y cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ nay cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Anh M không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Thị Thuỳ L để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của anh M nhưng chị L không có mặt nên không có lời khai của chị L và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Lê Ngọc T1 là anh trai cùng mẹ khác cha của chị L, anh T1 đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết giao ngay, tận tay cho chị L.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); anh M đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, chị L không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Anh M có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn yêu cầu, anh Nguyễn Bá M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thuỳ L. Giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 18/12/2015. Anh M cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi cháu Y thành niên. Anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thuỳ L đăng ký hộ khẩu thường trú tại Phố T (nay là số nhà 352, đường P), thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Anh Nguyễn Bá M đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Thuỳ L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt anh M, chị L theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị L có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2016 tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Thanh Hoá là hôn nhân hợp pháp.

Đánh giá thực trạng về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị không tìm ra biện pháp khắc phục mà đã sống ly thân từ tháng 05/2020 đến nay. Anh M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn. Về phía chị L biết việc anh M làm đơn xin ly hôn và Toà án đã ra thông báo thụ lý vụ án, nhưng chị L không đến Toà án làm việc, không giao nộp văn bản nêu ý kiến, mặc dù đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và không đến tham gia phiên toà. Điều này thể hiện chị L không quan tâm đến hạnh phúc gia đình và có ý bỏ mặc. Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M đối với chị L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh M và chị L có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 18/12/2015, hiện đang sống cùng với chị L. Nguyện vọng của anh M khi ly hôn: chị L là người trực tiếp nuôi cháu Y. HĐXX xét thấy, để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, chấp nhận yêu cầu của anh M, giao cháu Y cho chị L trực tiếp nuôi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy mức đề nghị cấp dưỡng của anh M là phù hợp, buộc anh M cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi cháu Y thành niên.

Về tài sản: Anh M không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107; 110 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 482 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, anh Nguyễn Bá M được ly hôn chị Nguyễn Thị Thuỳ L.

2. Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 18/12/2015. Anh M cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi cháu Y thành niên.

Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Bá M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được trừ vào số tiền anh đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000160 ngày 31/5/2022. Anh M còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt anh M, chị L. Anh M, chị L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ