vanban.org

Bản án 86/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với anh Trần Đức T.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Hoàng B, sinh ngày 28/5/2019 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Anh Trần Đức T được quyền tới thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với anh Trần Đức T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20/5/2022
V/v tranh chấp ly hôn, con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN KIM NGỌC.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông HUỲNH VĂN THANH

Bà NGUYỄN THỊ KIM HẠNH

- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN TRẦN HỒNG NHUNG – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 384/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ CẨM H, sinh năm 1991 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 112, Ấp V, xã T, thị trấn Th, huyện Th, thành phố C.

- Bị đơn: Anh TRẦN ĐỨC T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 24/5/2021 và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H trình bày: Chị và anh Trần Đức T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2017, có đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh T không quan tâm cuộc sống vợ con, ăn chơi bạn bè, vợ chồng thường cãi vã, nhiều lần chị khuyên can nhưng không thay đổi nên cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 12 năm 2020 đến nay.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Hoàng B, sinh ngày 28/5/2019, hiện cháu B đang sống với chị H.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Nguyễn Thị Cẩm H yêu cầu ly hôn với anh Trần Đức T. Yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Bị đơn anh Trần Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, bị đơn anh Trần Đức T cư trú: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh T. Do đó, tranh chấp ly hôn giữa anh, chị thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn Trần Đức T nhưng anh vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Cẩm H trình bày chị và anh Trần Đức T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2017, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 90 ngày 12/6/2019, chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh T không quan tâm cuộc sống vợ con, vợ chồng thường cãi vã, nhiều lần chị khuyên can nhưng không thay đổi nên cuộc sống không hạnh phúc, anh, chị chính thức ly thân từ năm 2020. Khi chị H có đơn xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh T nhưng anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, điều đó cho thấy anh T đã không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị H. Xét thấy, tình cảm vợ chồng anh, chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp.

Về con chung: chị H và anh T có 01 con chung tên Trần Hoàng B, sinh ngày 28/5/2019. Tại phiên tòa chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu B còn nhỏ và từ khi ly thân đến nay cháu B do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý cũng như đảm bảo cuộc sống và sự phát triển bình thường của cháu nên quyết định giao cháu Trần Hoàng B cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị H không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với anh Trần Đức T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Hoàng B, sinh ngày 28/5/2019 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Anh Trần Đức T được quyền tới thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001482 ngày 07/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy nên không phải nộp tiếp.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ