vanban.org

Bản án 86/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tài sản: Không yêu cầu giải quyết HĐXX không xem xét.

Án sơ thẩm vắng mặt chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn T . Chị L và anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly tho"
  • Tòa quyết gì? Tài sản: Không yêu cầu giải quyết HĐXX không xem xét.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƯỚC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20- 6 - 2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Xuân Bằng 2. Ông Lương Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Hường– Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25/5/2022 giữa: Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L ; Sinh năm 1986 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn M , xã ĐQ, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa Bị đơn: Anh Bùi Văn T ; Sinh năm 1985 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn M , xã ĐQ, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án: Chị Bùi Thị L trình bày: Chị L và anh Bùi Văn T tự do tìm hiểu khoảng 01 tháng và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán. Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa ngày 21/02/2008. Sau khi lấy nhau sống không hạnh phúc, không hợp nhau về nhiều mặt.

Từ tháng 12 năm 2017 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau về mọi mặt nên thường xuyên cãi nhau. Cuộc sống căng thẳng, mệt mỏi và quá áp lực. Bản thân anh T không chịu làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con còn rượu chè, đánh đập chị L và đuổi mấy mẹ con ra đường.

Từ năm 2017 chị L đưa hai con về ngoại sống đến nay. Sau khi ly thân không ai có trách nhiệm với ai. Nay chị L không còn tình cảm với anh T và tha thiết xin ly hôn.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Bùi Khánh sinh ngày 16/9/2014 và cháu Bùi Thị Thùy H sinh ngày 13/11/2017. Hiện nay chị Lý đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bùi Khánh H và cháu Bùi Thị Thùy H , không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu cháu Bùi Khánh H sinh ngày 16/9/2014 có bản tự khai có nguyện vọng được ở với mẹ.

Bị đơn: Anh Bùi Văn T được tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa án làm việc.

Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử chị L có đơn xin xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng thẩm phán, thư ký, HĐXX thực hiện đúng đủ theo quy định của BLTTDS.Về nội dung giải quyết vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho Bùi Thị L ly hôn anh Bùi Văn T . Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Khánh H , sinh ngày 16/9/2014 và cháu Bùi Thị Thùy H sinh ngày 13/11/2017 cho đến tuổi thành niên. Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí đề nghị nguyên đơn chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định, trình tự của BLTTDS. Việc Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của khoản 2 Điều 227 và các điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị hợp pháp. [3] Tình trạng hôn nhân: Mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn T đã đến mức trầm trọng, không còn chung sống, hôn nhân chỉ còn trên danh nghĩa chị L xác định tình cảm không còn. HĐXX căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Bùi Thị Lý ly hôn anh Bùi Văn T

Về con chung. HĐXX căn cứ các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình. Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Khánh H , sinh ngày 16/9/2014 và cháu Bùi Thị Thùy Hương sinh ngày 13/11/2017 cho đến tuổi thành niên. Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Bùi Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. [4].Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227 và các điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; -Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. 2. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị L . Xử cho chị Bùi Thị Lý ly hôn anh Bùi Văn T . 3. Về con chung: Giao cháu Bùi Khánh H sinh ngày 16/9/2014 và cháu Bùi Thị Thùy H sinh ngày 13/11/2017 cho chị Bùi Thị Lý trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Bùi Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Tài sản: Không yêu cầu giải quyết HĐXX không xem xét. -Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết HĐXX không xem xét. 4. Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0008520 ngày 21 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bá Thước (chị Lý đã nộp đủ).

Án sơ thẩm vắng mặt chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn T . Chị L và anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án hợp lệ.

Cỡ chữ